Nhiệm Màu Công Đức Thọ Trì Kinh Vô Lượng Thọ

Nhiệm Màu Công Đức Thọ Trì Kinh Vô Lượng Thọ

Đoạn phim ghi lại sự nhiệm màu của một nữ cư sĩ tại gia nhờ thọ trì bộ kinh Vô Lượng Thọ đã mang lại nhiều kết quả tốt đẹp. Với sự thành tâm khi trì tụng, cô đã có thể nhìn thấy được hình ảnh của ao sen thất bảo nơi Cực Lạc. Trong gia đình cô nhờ công đức hồi hướng của cô đều có kết quả như cô mong đợi: người cha phát tâm ăn chay trường, con gái cũng bỗng dưng muốn tụng kinh Vô Lượng Thọ và cùng mẹ ăn chay, cho đến hàng xóm thấy vậy cũng phát lòng tin tưởng và nguyện thọ trường chay. Công đức tụng kinh Vô Lượng Thọ thật bất khả tư nghì.

Quý liên hữu nào muốn download bộ kinh Vô Lượng Thọ do thầy Thích Trí Thoát tụng, xin hoan hỉ bấm vào link dưới đây. Chúng tôi đính kèm theo phiên bản kinh dưới dạng văn bản Ms Word và Adobe PDF để quý liên hữu đọc theo lời tụng.

MS Word Kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác (575 Kb)
Adobe PDF Kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác (687 Kb)

CHIA SẺ BÀI VIẾT:

104 Phúc đáp

  1. ngọc hướng

    A DI ĐÀ PHẬT
    cảm ơn hồi âm của TN, để được tâm thanh tịnh rất là khó, con chưa làm được, tâm của con sao vẫn còn sân giận , sao vẫn chưa biết tha thứ, bỏ qua, mặc dù những lúc như vậy con cũng cảm thấy có lỗi và cũng thấy buồn, phải chi con cũng làm được tâm thanh tịnh như lời phật dạy thì hay biết mấy, có phải con chưa đủ duyên để đọc kinh và niệm phật hay không? con đang cố gắng thay đổi bản thân dần dần để tâm được thanh tịnh.
    còn một việc này cho con hỏi là có phải cả một đời này mình nên chuyên cần đọc một quyển kinh hay không? vậy khi con muốn đọc thêm kinh khác thì có sao không? khi con biết đọc kinh thì VLT là quyển kinh đầu tiên con đọc trước tam bảo mỗi ngày. nhưng có một người bạn tặng cho con quyển Lương Hoàng Sám vậy con muốn đọc thêm thì có được không?

  2. Thiện Nhân

    A DI ĐÀ PHẬT

    Gửi bạn Ngọc Hướng,

    Khó hay dễ ở chính nơi bạn. Chư Tổ dạy: Khi mê thì Thầy độ, ngộ rồi, tự mình phải độ mình. Bạn đọc kinh Phật, hiểu được lời Phật dạy nhưng chưa thực sự y giáo phụng hành nên tạm gọi là chưa ngộ, vì chưa ngộ nên chưa thể độ chính mình.

    Phật dạy: Một niệm sân khởi lên thiêu trụi một rừng công đức. Công đức từ đâu mà có? Chẳng phải nơi ăn chay, chẳng phải nơi tụng kinh, niệm Phật, trì chú… mà có. Trái lại phải ở nơi trì giới. Bạn hãy tự hỏi: Hàng ngày mình đã thực sự trì giới và cố gắng trì giới chưa? Nếu có hoặc có cố gắng tất tâm phiền não, sân hận, tâm thủ chấp sẽ ngày phải giảm thiểu; ngược lại sẽ ngày càng mãnh liệt hơn.

    Nhân của sân hận vốn từ cống cao, ngã mạn mà sanh. Lý do? Vì mình nghĩ mình là trên nhất, mình cao, đúng, vượt trội hơn tất cả, ngoài mình ra chẳng ai bằng mình. Bạn hãy học quán: Trên đời, ngoài mình ra, còn tất thảy mọi người đều là Thiện tri thức, mọi hành vi thiện-ác của họ đều là để cảnh tỉnh mình, giúp mình thăng tiến trên đường tu đạo. Khi ý niệm này thường hiện hữu, tất những vọng niệm sẽ dần bị đẩy lùi.

    Nhân của chấp trước, không chịu bỏ qua (còn gọi nhân chấp thủ) phát xuất thì thiếu lòng từ và không chịu buông xả. Trong Tứ vô lượng tâm Phật dạy: Từ-Bi-Hỉ-Xả thì Xả là quan trọng hơn cả. Người thiếu lòng Từ tất chẳng thể cảm thông, yêu thương, đùm bọc, quý kính kẻ khác=không có Bi. Vì thiếu Từ-Bi nên tâm luôn sống trong tham, sân, si, mạn, phân biệt, chấp trước nên chẳng thể sanh Hỉ, vì không hỉ nên chẳng thể Xả. Đó là hiểu theo nghĩa thô. Chúng ta tu học cũng phải đi từ thô tới vi tế. Ví như bạn làm được việc thiện=có từ, có bi, lại làm với tâm hoan hỉ, không phân biệt, không tính toán thiệt hơn, làm rồi có thể quên ngay việc thiện đó rồi lại bắt tay và những việc thiện kế tiếp. Được thế=bạn hành thiện bằng tâm từ-bi-hỉ-xả; ngược lại, tâm muốn giúp người, hoặc giúp rồi, nhưng còn so đo, tính toán thiệt hơn, cao-thấp, lạ-quen, rồi nương chấp những việc thiện đó (muốn mọi người biết mình làm thiện; tán thán mình; hàm ơn mình, hoặc giả không được vậy thì sanh phiền não, bực tức, thoái tâm…)=có từ-bi nhưng chưa thanh tịnh (vì còn có phân biệt), vì không tịnh nên đương nhiên hỉ-xả không thể hiện hữu. Đó gọi là vi tế hoặc, nghĩa là những phiền não vi tế còn vướng kẹt nơi tâm.

    TN sơ lược vậy để bạn hiểu, chúng ta tu hành, chẳng phải ngày một, ngày hai đã giác ngộ, và thành đạo, trái lại nó là quá trình dài, lâu, không mỏi mệt. Tu mà thấy mỏi mệt=đã lạc đường và phải chấn chỉnh ngay, bằng không sẽ lạc vào ma đạo.

    còn một việc này cho con hỏi là có phải cả một đời này mình nên chuyên cần đọc một quyển kinh hay không? vậy khi con muốn đọc thêm kinh khác thì có sao không? khi con biết đọc kinh thì VLT là quyển kinh đầu tiên con đọc trước tam bảo mỗi ngày. nhưng có một người bạn tặng cho con quyển Lương Hoàng Sám vậy con muốn đọc thêm thì có được không?

    Chư Tổ dạy: Một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu! Ý nói: Khi mới phát tâm phải chọn pháp môn phù hợp với căn cơ của mình, kế đó là phải có huân tập mới mong, có thành tựu. Khi đã có định lực rồi thì việc tìm hiểu, học hỏi thêm giáo pháp của Phật để khai mở thêm trí tuệ là điều rất nên; ngược lại, thì không nên vọng cầu thái quá mà lạc đạo, rồi bến đâu không thấy, chỉ thấy mình lênh đênh, chìm nổi giữa dòng nước xoáy và bị nó cuốn trôi lúc nào không biết.

    TN nguyện chúc bạn quán chiếu thật tinh tế Tứ Vô Lượng Tâm mà Phật dạy; kế đó là không được xa rời Nhân-Quả. Chúng ta tu đạo sở dĩ hay gặp ma chướng và lạc đường đều do xa rời nhân-quả, lại thêm tâm quá háo thắng, muốn đốt cháy giai đoạn và thủ chấp mà nên. Ráng lên bạn nhé.
    TN

  3. ngọc hướng

    A DI ĐÀ PHẬT
    cảm ơn hồi âm của TN, con sẽ cố gắng nghe theo lời khuyên của TN.

  4. nguyễn thị hằng

    Kính thưa cư sĩ,con moi tụng kinh VLT nhungcon k có bàn thờ phật vì con đang o trọ,con k biết là nghi lễ tụng sẽ nhu thế nào và tụng vào các thoi nào trong ngày.Và con cũng thắc mác và lo 1 điều là khi tụng mà con không hiểu duoc thì sẽ là vô ích,con lo m k hiu dk.Vậy điều này có đúng nếu con cứ chuyên tụng thì sẽ có thể hiu dk ý nghĩa của câu kinh k ạ? Xin phép cu sĩ chỉ bảo giúp con ạ.A DI ĐÀ PHẬT.

    • Hãy Niệm A Di Đà Phật

      A Di Đà Phật
      Kinh Phật không phải là khoa học,triết học giống như kiến thức thế gian.Các kiến thức trên thế gian đều là từ tâm vọng tưởng,từ ý thức lưu xuất ra.Cho nên,các kiến thức này phải suy nghĩ phân biệt phải hiểu thì mới có lợi ích.
      Kinh Phật là từ chân tâm của Phật lưu xuất ra,ý thức không thể dò được,thậm chí lại còn hiểu sai.Tụng kinh chỉ cần tin chân thành là được.Không sợ không hiểu chỉ sợ không có lòng tin chân thành để tụng.
      Bạn hãy nghe hòa thượng Tịnh Không giảng
      Khởi Tín Luận dạy: “Ly danh tự tướng, ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng”. Ngôn thuyết, danh tự quý vị đã hiểu rành, tâm duyên là gì? Duyên là “phanduyên” (nắm níu), tâm là Ý Thức, tức thức thứ sáu. Tôi giảng ở đây, quý vị nghe rồi ngay lập tức ghi xuống, đấy là “tướng tâm duyên”. Vẽ hết các tướng tâm duyên lên giấy, hoặc là vừa nghe [liền nghĩ] câu ấy có nghĩa như thế này; [sự suy tưởng] những ý nghĩa ấy chính là tướng tâm duyên. Thưa quý vị, không có ý nghĩa! Những ý nghĩa quý vị vừa nghĩ đó chính là khởi vọng tưởng. Kinh không có ý nghĩa! Khi khởi tác dụng sẽ có vô lượng nghĩa, như tôi vừa mới nói đấy thôi: Bát Nhã vô tri! Kinh không có ý nghĩa, vô tri mà! Do vậy, khi đọc tụng là cầu Bát Nhã vô tri, tu Căn Bản Trí. Khi quý vị đọc tụng, nếu nói đoạn này có ý nghĩa này, đoạn kia có diệu nghĩa nọ, hỏng bét, hoàn toàn rớt vào ý thức. Công đức đọc tụng của quý vị không có! Đọc tụng nhằm mong hoàn thành Giới – Định – Huệ cùng một lượt. Do vậy, đọc tụng là đọc tụng, quyết chẳng thể nghĩ ngợi những ý nghĩa trong ấy. Ví như niệm kinh Di Đà, từ đầu đến cuối đọc xong một loạt, niệm từng chữ phân minh, rõ ràng, quyết định chẳng dấy lên một ý niệm trong ấy. Đó là tu Giới – Định – Huệ.
      Tu Giới – Định – Huệ như thế nào? Khi quý vị niệm kinh, trong tâm chẳng khởi vọng tưởng, chẳng khởi ác niệm, đấy là “chư ác mạc tác” (đừng làm các điều ác). Kinh là ngôn ngữ lưu lộ từ chân tánh của Phật, là điều tốt lành nhất trong những điều lành, độ vô lượng vô biên chúng sanh, không có gì tốt lành hơn. Đọc kinh là “chúng thiện phụng hành” (vâng làm các điều lành). “Chư ác mạc tác” là giới Tiểu Thừa, “chúng thiện phụng hành” là giới Đại Thừa; Giới được đầy đủ! Khi đọc tụng bèn chuyên tâm, chuyên tâm là Định thành tựu. Từng chữ phân minh, chẳng đọc sai chữ nào, chẳng đọc lộn câu nào, là Huệ thành tựu. Chẳng khởi vọng tưởng, chẳng cần phải hiểu nghĩa. Đấy là tu Giới, Định, Huệ, tu Căn Bản Trí. Nếu quý vị không hiểu, một mặt niệm, một mặt suy nghĩ, đấy chính là một mặt đọc tụng, một mặt khởi vọng tưởng, hoàn toàn phá hoại công đức đọc tụng. Vì thế, khi đọc tụng chỉ đọc tụng, khi thảo luận sẽ thảo luận. Thảo luận lấy trí huệ làm chủ, tức là lấy Hậu Đắc Trí làm chủ, còn đọc tụng lấy Căn Bản Trí làm chủ, khác hẳn; nhưng Căn Bản Trí và Hậu Đắc Trí có quan hệ mật thiết: Không có Căn Bản Trí, tuyệt đối chẳng có Hậu Đắc Trí. Trước khi đạt được Căn Bản Trí thì trí ấy gọi là Phương Tiện Trí, giống như những điều chúng tôi đang nói đây gọi là Phương Tiện Trí, giúp quý vị cầu Căn Bản Trí. Sau khi đạt được Căn Bản Trí, Phương Tiện Trí liền chuyển biến, biến thành Hậu Đắc Trí, biến thành “không gì chẳng biết”. Trí huệ “không gì chẳng biết” ấy là để dùng cho người khác, chẳng phải để chính mình dùng. Chính mình dùng là vô tri, tự mình dùng là tâm thanh tịnh, giống như Lục Tổ đã nói: “Vốn chẳng có một vật”. Đấy là Tự Thụ Dụng, khi để cho người khác thụ dụng thì không pháp nào chẳng biết.

      Theo mình nghĩ -Tụng kinh không phải là chuyện dễ,mới đầu có thể hào hứng nhưng được một thời gian thì khó tiếp tục bền lâu bởi vì trong tâm có nghi,lại có thêm nghiệp chướng ngăn cản.Tụng hết bộ kinh có thể mất tới vài tiếng,không phải ai có thời gian và lòng kiên trì để ngày nào cũng làm được.Và cuối cùng là sẽ nản lòng.Thế nên học Phật phải khéo léo một chút,phải biết đơn giản vấn đề đi,nếu lúc nào cũng ôm đồm cả một đống thì không kham nổi.
      Tụng kinh thì mất tới vài tiếng nhưng niệm một câu A DI ĐÀ PHẬT chỉ có 1 giây,xét về mặt thời gian cách biệt lớn.Xét về ngôn ngữ, cả bộ kinh có qúa nhiều từ bạn không nhớ hết được, A DI ĐÀ PHẬT chỉ có 4 từ trẻ con,người già đều nhớ được.Về công đức thì câu A DI ĐÀ PHẬT đã đầy đủ hết rồi.Một ngày bạn bận,bạn mệt mỏi,bạn ốm,bạn không thể tụng kinh được thì cũng không sao cả nhưng một ngày nên duy trì ít nhất niệm được 100 câu A DI ĐÀ PHẬT.
      Danh hiệu Phật cũng tức là thân Phật. Danh hiệu Phật sung mãn khắp pháp giới.Chỉ cần tâm bạn nhớ Phật,niệm Phật là được,việc lập bàn thờ nếu hoàn cảnh phức tạp thì thôi đi.
      A Di Đà Phật

    • Huệ Tịnh

      A Di Đà Phật. Xin gửi bạn Hằng,

      Nếu muốn tùy phận được lợi ích thật sự, phải chí thành khẩn thiết thanh tịnh tam nghiệp. Hoặc trước hết phải đoan tọa chốc lát, lắng định thân tâm, rồi mới lễ Phật, đọc ra tiếng; hoặc chỉ im lặng xem. Hoặc lễ Phật xong, đoan tọa chốc lát, sau đó mới mở kinh [ra xem]. Cũng phải thân đoan nghiêm, ngồi ngay ngắn như đối trước thánh dung, đích thân lắng nghe viên âm, chẳng dám manh nha một niệm biếng nhác, chẳng dám khởi một niệm phân biệt. Ðọc một loạt từ đầu đến cuối, dù là văn hay nghĩa đều nhất loạt chẳng dùng lý lẽ để hiểu.
      Ðọc kinh như thế, người lợi căn đối với mỗi mỗi Không lý sẽ lãnh ngộ được, chứng pháp Thật Tướng; còn kẻ căn cơ độn kém cũng tiêu trừ được nghiệp chướng, tăng trưởng phước huệ. Lục Tổ nói: “Ðãn khán Kim Cang kinh, tức năng minh tâm kiến tánh” (chỉ xem kinh Kim Cang liền có thể minh tâm kiến tánh) là nói về cách xem kinh như trên đây, cho nên bảo là “đãn” (chỉ). Kinh Ðại Thừa đều có công năng minh tâm kiến tánh, chứ nào phải mình kinh Kim Cang?

      Nếu cứ một mực phân biệt câu này nghĩa như thế nào, đoạn này nghĩa là gì thì toàn là thuộc về phàm tình, vọng tưởng, xét đoán, suy lường, làm sao ngầm phù hợp với ý Phật, lãnh ngộ trọn vẹn ý kinh; nhân đó, nghiệp chướng tiêu diệt, phước huệ tăng cao cho được? Nếu biết cung kính thì còn gieo được chút thiện căn. Nếu cứ làm giống hệt như cách đọc sách Nho của kẻ học rộng sẽ thành hạng người vướng phải tội khinh nhờn sừng sững như non, thăm thẳm như vực, dùng nhân lành chiêu lấy quả ác vậy.

      Trích Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục
      http://www.duongvecoitinh.com/index.php/2014/09/khi-xem-kinh-khong-nen-dung-ly-le-de-hieu/

    • Đường Về Cõi Tịnh

      A Di Đà Phật. Xin liên hữu Hãy Niệm A Di Đà Phật hoan hỉ kiểm tra email tại huydan…@gmail.com.

      A Di Đà Phật

  5. ngọc hướng

    A DI ĐÀ PHẬT
    xin hoan hỷ giải đáp thắc mắc của con dùm:
    con đọc kinh VLT thì hiểu như thế này, có phải Phật A DI ĐÀ thành Phật rồi thì Phật Di Lặc mới bắt đầu học Phật phải không?
    khi Phật Di Lặc Bạch với đức Thế Tôn thì đức Thế Tôn ở đây là ai vậy? có phải Phật Thích Ca không?
    còn Phật Như Lai là ai? có phải là Phật Thích Ca luôn không?
    Pháp Tạng Tỳ kheo là gì?

    • Hãy Niệm A Di Đà Phật

      A Di Đà Phật
      Trước tiên xin hoan nghênh bạn Ngọc Hướng đã đọc kinh VLT,thêm một người tụng kinh thì thế giới bớt thêm tai nạn.Mình xin trả lời câu hỏi bạn như sau.
      1. có phải Phật A DI ĐÀ thành Phật rồi thì Phật Di Lặc mới bắt đầu học Phật phải không?
      -Theo kinh thì Phật A DI ĐÀ thành Phật đến nay đã 10 kiếp. 10 kiếp chỉ là con số tượng trưng,chính xác là bao nhiêu thì phàm phu như chúng ta chẳng biết được.
      -Ngài Di Lặc trong kinh xuất hiện với thân phận bồ tát nhất sanh bổ xứ chứ không phải thân Phật. ‘Nhất sanh Bổ Xứ’ là chỉ còn một đời nữa sẽ thành Phật như hiện tại Di Lặc Ðại Sĩ đang ở nội viện trời Ðâu Suất chỉ còn một đời nữa là thành Phật, tức là như kinh Pháp Hoa nói: ‘Chỉ còn một đời nữa, sẽ đắc Nhất Thiết Trí’ nên gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ.
      – bồ tát Di Lặc bắt đầu học Phật từ khi nào có lẽ là từ lâu lắm rồi chẳng biết được
      Cho nên câu hỏi này mình không trả lời chính xác được.Nhưng mình nghĩ việc có phải Phật A DI ĐÀ thành Phật rồi thì Phật Di Lặc mới bắt đầu học Phật phải không,nó không phải là việc quan trọng lắm với chúng ta,nên không cần phải đào sâu.
      2.khi Phật Di Lặc Bạch với đức Thế Tôn thì đức Thế Tôn ở đây là ai vậy? có phải Phật Thích Ca không?
      -Là Phật Thích Ca
      3. còn Phật Như Lai là ai? có phải là Phật Thích Ca luôn không?
      -Bạn nghe lời giảng sau của hào thượng Tuyên Hóa
      Mười phương ba đời tất cả chư Phật, mỗi vị Phật đều có một vạn danh hiệu. Nhưng vì sức trí nhớ của chúng sinh yếu kém, cho nên chư Phật từ bi mới quyết định từ một vạn danh hiệu mà giảm xuống còn một ngàn danh hiệu. Trải qua bao nhiêu kiếp thì trí nhớ của chúng sinh càng ngày càng giảm. Một ngàn danh hiệu cũng nhớ chẳng rõ ràng. Chư Phật lại thương xót chúng sinh mới giảm từ một ngàn danh hiệu xuống còn một trăm. Lại qua thời gian lâu dài, chúng sinh vẫn cảm thấy quá nhiều, về sau lại giảm xuống còn mười. Từ đó về sau, mỗi vị Phật đều có mười danh hiệu. Những gì là mười?
      – Như Lai
      – Ứng Cúng: Phật xứng đáng thọ nhận trời người cúng dường, xứng đáng thọ nhận sự cung kính của người thế gian, cho nên gọi là Ứng Cúng.
      -Chánh Biến Tri: Phật, chẳng có gì mà chẳng biết (vô sở bất tri), chẳng có gì mà không thấy (vô sở bất kiến). Lý của Phật nói pháp là chánh quyết, trí huệ quang minh khắp hết thảy, cho nên gọi là Chánh Biến Tri.
      -Minh Hạnh Túc: Phật chẳng sinh đủ thứ tâm phiền não, đây là minh túc, nghĩa là thiên nhãn minh, biết tất cả pháp đời hiện tại; túc mạng minh biết tất cả pháp đời quá khứ; lậu tận minh biết tất cả đời vị lai. Phật tu lục độ vạn hạnh là hạnh túc. Cho nên hợp lại gọi là Minh Hạnh Túc.
      -Thiện Thệ Thế Gian Giải: Thiện Thệ tức là đi đến nơi chân thiện mỹ, tức cũng là bên kia Niết Bàn chẳng sinh chẳng diệt. Thế Gian Giải là Phật hoàn toàn thấu hiểu trí huệ của hữu tình và vô tình thế gian.
      -Vô Thượng Sĩ: Trí tuệ của Phật cao hơn hết, chẳng có gì sánh bằng. Phật đã tu chứng địa vì tột cùng chẳng còn địa vì gì có thể chứng nữa, cho nên gọi là Vô Thượng Sĩ.
      -Ðiều Ngự Trượng Phu: Phật dùng đức để hóa độ là điều, dùng uy để chế phục là ngự. Phật là đại trượng phu điều ngự chúng sinh ba cõi.
      Thiên Nhân Sư: Phật là đại Ðạo Sư của trời người. Sư là phép tắc mô phạm, nói năm thừa giáo lý, lợi ích chúng sinh, khai đạo chúng sinh.
      -Phật
      -Thế Tôn: Phật là bật tôn kính của thế gian và xuất thế gian, xuất là ra khỏi ba cõi. Phật là người được chư Thiên và nhân loại tôn kính nhất.
      4. Pháp Tạng Tỳ kheo là gì?
      Pháp Tạng Tỳ kheo chính là tiền thân Phật A DI ĐÀ khi tu nhân.Lúc bây giờ ngài chưa thành Phật có tên là Pháp Tạng Tỳ kheo. Pháp Tạng Tỳ kheo phát ra 48 đại nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh.Sau đó Pháp Tạng Tỳ kheo dũng mãnh tinh tấn tu hành bồ tát đạo trải qua không biết bao nhiêu kiếp thì nay ngài đã thành Phật,hiệu là A DI ĐÀ Phật,48 đại nguyện cũng đã viên mãn,cõi Cực Lạc đã được kiến lập.Từ lúc bấy giờ trở đi hễ có ai tín nguyện trì danh cầu sanh Cực Lạc đều được Phật tiếp dẫn.
      Bạn hãy tiếp tục đọc kỹ kinh,có gì thắc mắc cứ đưa lên đây để mọi người cùng thảo luận
      A Di Đà Phật

  6. Nguyễn Ngọc Dân

    Kính lạy Thầy Trí Thoát!
    Con là một chúng sinh bị vô minh sâu dày che mờ, may mắn được nghe CHÚ ĐẠI BI do Thầy tụng trên audio, con tập đọc theo Thầy, nhờ thế mà con ngộ được Phật Pháp. Lòng kính ngưỡng vô hạn nhưng do địa lý cách trở nên mong ước khi Thầy về VN để con được một lần lễ bái Thầy để tạ ơn lớn này. Kính mong Thầy chứng minh cho thành tâm của con.
    Con cầu xin mười phương chư Phật gia hộ Thầy luôn luôn khỏe mạnh, đạo cao, đức trọng để chúng con được nương tựa trên đường tìm “Bản Lai Diện Mục”

    PT Chiếu Phú (Nguyễn Ngọc Dân).

    Khi Thầy về VN con xin Thầy hoan hỷ báo tin rộng rãi để nhiều PT đến lễ bái kính mừng

  7. ngọc hướng

    A DI ĐÀ PHẬT
    xin hoan hỷ cho con hỏi, trong kinh VLT có ghi nếu niệm Phật mà tâm còn nghi ngờ thì sẽ “sanh về biên địa của nước Cực Lạc chịu các tai ách trải qua năm trăm năm”.
    vậy cho con hỏi các tai ách này là gì? có thống khổ như ba đường ác không? nếu đã vãng sanh được về Cực Lạc rồi sao lại phải chịu nhiều tai ách. con nghe giảng nhiều về sự thống khổ của ba đường ác, khổ vô cùng, vì quá khiếp sợ thân sau không biết có được thân người để nghe kinh pháp để tiếp tục niệm phật và được về với Phật hay không? hay là phải trôi theo dòng nghiệp lực và cuối cùng phải đọa lạc, vì quá sợ phải vào ác đạo và thấy ngày càng nhiều thiên tai, chúng sanh đang đối diện với quá nhiều nỗi đau, nỗi mất mát nên con hằng ngày đang cố gắng để niệm Phật, nhưng cho con hỏi sao con chưa nghe ai giảng về những tai ách ở biên địa của nước Cực Lạc. nếu phải chịu nạn năm trăm năm ở đó thì làm sao có thể tu hành tiếp để độ thoát cho chúng sanh,cho gia đình , cho cửu huyền thất tổ, cho cha mẹ để đáp đền chữ hiếu.
    xin hoan hỷ giải đáp dùm cho con.

    A DI ĐÀ PHẬT
    cho con hỏi thêm một câu hỏi không nằm trong kinh VLT.
    PHẬT THÍCH CA RA ĐỜI, HỌC ĐẠO, THÀNH PHẬT VÀ CUỐI CÙNG LÀ NGÀI ĐÃ NHẬP NIẾT BÀN TẠI ẤN ĐỘ. vậy tại sao người Ấn Độ không tôn thờ Ngài mà lại thờ thần linh? sao Phật giáo lại mất? con rất thắc mắc xin hoan hỷ giải thích cho con.

    • Hướng Đạo

      Trong thời gian chờ đợi các liên hữu trả lời thì tạm thời bạn nên tham khảo qua bài Niệm Phật Nhưng Không Tin Chính Mình Sẽ Vãng Sanh Về Biên Địa.

      Người Ấn Độ hiện tại cũng có một số người thờ Phật mà bạn. Nói chung thì ai tin Phật thì sẽ thờ Phật thôi cho dù ở bất cứ nơi đâu.

      A Di Đà Phật _()_

    • Hãy Niệm A Di Đà Phật

      A Di Đà Phật
      Bạn hỏi -PHẬT THÍCH CA RA ĐỜI, HỌC ĐẠO, THÀNH PHẬT VÀ CUỐI CÙNG LÀ NGÀI ĐÃ NHẬP NIẾT BÀN TẠI ẤN ĐỘ. vậy tại sao người Ấn Độ không tôn thờ Ngài mà lại thờ thần linh?
      Thay vì trực tiếp trả lời câu hỏi này của bạn,mình sẽ trả lời một câu hỏi khác tương tự nhưng rộng hơn là trên thế giới này ai là người được nhiều người tôn thờ nhất
      Phật giáo không phải là tôn giáo có nhiều tín đồ nhất thế nên Phật Thích Ca không phải được nhiều người thờ nhất.Phải chăng phật pháp không hay bằng các tôn giáo khác.Xin thưa với bạn là sự thật không phải là như vậy đâu.
      -Trên hiện tượng thô phù tạm có thể xắp xếp như sau
      1.Đứng đầu xếp hạng chính là Ma vương ba tuần.Người trên thế gian tôn thờ ma vương nhiều nhất.Những ai yêu mê say đắm tiền tài,thế lực,danh vọng,phim ảnh,thời trang,làm đẹp,ái tình,các tri thức học thuật thế gian ,… thì đồng nghĩa là đang tôn thờ ma vương.Số người chiếm hơn nửa trên thế gian.
      2.Ngài Thích Đế Hoàn Nhân,vua cõi trời Đao Lợi xếp thứ hai.Học trò của ngài là những hiền nhân nhưng vẫn có phần lưu luyến dục.Những hiền nhân này Đối với tà dâm thì xa lánh nhưng đối với chánh dâm vẫn sanh tâm yêu mến thế nên những hiền nhân này hay cho rằng tình yêu nam nữ là món qùa tuyêt vời của thượng đế ban tặng cho con người. Ngài Thích Đế Hoàn Nhân chủ yếu dạy con người làm 10 điều thiện để sanh lên cõi Đao Lợi.
      3. Ngài Đại Phạm Vương vua cõi trời sắc giới.Đối tượng của ngài là những hiền nhân sẵn sàng có tinh thần bỏ dục.Chúng ta thuộc cõi dục cho nên những người có tinh thần bỏ dục sẽ ít cho nên học trò của ngài Đại Phạm Vương sẽ ít hơn Ngài Thích Đế Hoàn Nhân.Muốn lên cõi trời sắc giới thì chỉ làm việc thiện không là chưa đủ mà phải tu thiền định.
      4.Học trò Thích Ca Mâu Ni Phật là ít nhất là vì Phật Pháp dạy lìa bỏ luôn cả dục,sắc và vô sắc.Chúng sanh từ vô thủy đã đam mê sắc dục trời qúa sâu nặng lên nay nói lìa bỏ sắc dục thì cảm thấy trống rỗng,hoang mang cho nên cảm thấy Phật Pháp có phần xa lạ.
      Sở dĩ có sự xếp hạng như vậy là do tâm ưa mến chúng sanh chiêu cảm.Nhưng đấy chỉ là sự xếp hạng trên mặt hiện tượng thô phù của cõi người thôi.
      – Ma vương ba tuần thì chỉ có chúng sanh ở cõi dục là tôn thờ ông ta thôi. Thích Ca Mâu Ni Phật thì vô lượng các chư thiên cõi dục,cõi sắc,a la hán,bồ tát ở các phương đều tôn kính.Thế gian và xuất thế gian Phật là tôn kính nhất.Thế nên bạn đừng chấp vào hiện tượng trước mắt.
      sao Phật giáo lại mất?
      Bạn nghe hòa thượng Tịnh Không nói
      Kinh Lăng Nghiêm đúng là bi tâm triệt để của Như Lai, chẳng trách gì tại Ấn Độ vào thời cổ coi kinh này là quốc bảo, Huyền Trang đại sư tới Ấn Độ không thấy kinh Lăng Nghiêm. Người ngoại quốc tiếc pháp; do vậy, Ấn Độ bị mất nước, toàn bộ Phật pháp ở Ấn Độ bị tiêu diệt là vì có nhân quả:
      Họ tiếc pháp! Họ cất giấu bộ kinh điển hay nhất, chẳng cho người nước ngoài xem. Do vậy, Huyền Trang đại sư không thấy. Ngài Bát Lạt Mật Đế đem kinh này tới Trung Quốc, gặp nhiều khổ nạn to lớn, mấy lượt lén đem đi đều bị hải quan (quan thuế, tuần tra biên phòng) bắt được. Kiểm thấy, họ bắt Sư về, Sư lại còn bị xử phạt. Đến cuối cùng, không còn cách nào, Sư phải chép kinh bằng chữ nhỏ, xẻ thịt nơi bắp tay để giấu vào, dùng kim may lại, mang đi như vậy thật chẳng dễ dàng! Mỗi cá nhân chúng ta tiếc pháp sẽ mắc quả báo ngu si. Một quốc gia tiếc pháp sẽ mắc quả báo trong tương lai
      Phật pháp tiêu diệt. Cho đến hiện tại, đã hơn một ngàn năm xứ Ấn Độ không có Phật pháp, do vì tiếc pháp đấy! Quả thật, nhân quả báo ứng không sai sót mảy may.
      A Di Đà Phật

    • Nguyễn thị Lựu

      Chào bạn Ngọc Hướng,
      Theo mình nghĩ, việc đạo Phật bị biến mất ở Ấn Độ trong một thời gian dài (mấy mươi năm gần đây có khuynh hướng hồi phục lần lần, nhờ sự truyền bá Phập pháp từ những nước khác), xét cho cùng, là do dân chúng Ân Độ thiếu phước duyên, và đó cũng là nghiệp của họ. Nếu bạn nghe được từ những vị đã đi hành hương Ấn Độ trở về, thì bạn mới hình dung được sự nghèo khổ của phần lớn dân chúng xứ ấy.
      Bạn có thể tham khảo tài liệu dưới đây để biết thêm về sự biến mât của Phật giáo tại xứ ấy:
      http://thuvienhoasen.org/a6789/vi-sao-phat-giao-suy-tan-tai-an-do
      Nam Mô A Di Đà Phật!

    • Thiện Nhân

      A Di Đà Phật

      Bạn Ngọc Hướng thân mến,

      TN đoán có lẽ bạn mới đọc Kinh VLT chứ chưa đi vào trì tụng miên mật, vì vậy có những ý nghĩa trong kinh bạn đã không để ý nên nắm chưa cụ thể. Trong „Phẩm 40 Biên Địa Nghi Thành và Phẩm 41 Hoặc Tận Kiến Phật“ khi Ngài Di Lặc Bồ tát hỏi Đức Phật Thích Ca lý do tại sao có người ở trong thai sanh, có người được hoá sanh? Và Phật Thích Ca đã lý giải rất cụ thể về 2 trường hợp được sanh về Tịnh Độ. TN xin ghi lại 2 phẩm quan trọng này để bạn cùng các liên hữu khác nếu có chung nghi ngờ hay cùng có thắc mắc chúng ta sẽ cùng nhau nhìn nhận lại vấn đề cho thật thấu đáo:

      Hỏi: trong kinh VLT có ghi nếu niệm Phật mà tâm còn nghi ngờ thì sẽ “sanh về biên địa của nước Cực Lạc chịu các tai ách trải qua năm trăm năm”.
      vậy cho con hỏi các tai ách này là gì? có thống khổ như ba đường ác không? nếu đã vãng sanh được về Cực Lạc rồi sao lại phải chịu nhiều tai ách

      1. Nguyên do người được sanh về Cực lạc nhưng phải ở vùng biên địa: “Nếu có chúng sanh do tâm nghi hoặc làm các công đức, nguyện sanh về Cực Lạc, không rõ Phật trí, bất tư nghì trí bất khả xứng trí, Đại thừa quảng trí, Vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí, đối với các trí này nghi ngờ không tin, nhưng vì tin tội phước mà tu tập hạnh lành, nguyện sanh về Cực Lạc.
      Lại có chúng sanh chứa nhóm thiện căn, mong cầu Phật trí, phổ biến trí, vô đẳng trí, oai đức quảng đại bất tư nghì trí, đối với căn lành không sanh lòng tin, ý chí còn do dự đối với sự vãng sanh cõi Phật thanh tịnh, không có tinh chuyên, nhưng vì liên tục nhớ nghĩ không thôi kết thành thiện nguyện cũng được vãng sanh.
      Do những nhân duyên đó, những hạng người này tuy được sanh về Cực Lạc, nhưng không thể đến thẳng cõi Đức Phật Vô Lượng Thọ được, chỉ đến biên giới cõi Phật, ở trong thành thất bảo thôi. Không phải Đức Phật muốn như vậy, mà vì chính họ tạo nên tâm đến đó vậy. Ở đó cũng có ao sen thất bảo, tự nhiên thọ thân, ăn uống sung sướng như cõi trời Đao Lợi, nhưng ở trong thành đó không thể ra khỏi, nhà ở trên đất, không thể tùy ý cao lớn.
      Ở đó năm trăm năm không thấy Phật, không nghe được pháp, không thấy Thánh chúng Bồ Tát, Thanh Văn, trí huệ không sáng suốt, biết kinh pháp lại ít, tâm không mở mang, ý không vui vẻ, nên ở đó gọi là thai sanh“.

      Tai ách của người sanh vùng biên địa chính là: „Ở đó cũng có ao sen thất bảo, tự nhiên thọ thân, ăn uống sung sướng như cõi trời Đao Lợi, không thể ra khỏi, nhà ở trên đất, không thể tùy ý cao lớn.
      Ở đó năm trăm năm không thấy Phật, không nghe được pháp, không thấy Thánh chúng Bồ Tát, Thanh Văn, trí huệ không sáng suốt, biết kinh pháp lại ít, tâm không mở mang, ý không vui vẻ…“
      (…)
      „Trong hoa thai đó thanh tịnh không có uế ác, nhưng trong năm trăm năm không thấy Tam Bảo, không được cúng dường phụng sự chư Phật, xa lìa tất cả thiện căn thù thắng, do nỗi khổ đó nên không vui thích“.

      Bạn phải lưu ý đoạn kinh văn này bởi có rất nhiều người cho rằng: chỉ cần làm sao được sanh về vùng biên địa của Cực Lạc cũng là tốt lắm rồi, bởi dù sao cũng được vĩnh ly sanh tử luân hồi. Tuy là khổ nhưng là khổ ở Cực lạc. Đây là ý nghĩ hết sức nguy hại và nếu ý nghĩ này được huân tập chúng sẽ trở thành những chủng tử xấu khiến chúng ta đánh mất Tín-Nguyện-Hạnh lúc nào chẳng hay và khi Tín-Nguyện-Hạnh lơ là thì cả phước lẫn huệ đều chẳng thành tựu, phiền não lại ngày một tăng trưởng, tới khi vô thường ập tới, biên địa Cực Lạc đâu chả thấy mà 3 đường ác đã mở rộng để chờ đón chúng ta chứ chẳng phải chơi.

      Một điểm hết sức quan trọng nữa là người sanh vùng biên địa vì Tín-Nguyện-Hạnh đã không có nên trí huệ không được mở mang, kinh pháp hiểu ít, không được gần Thiện Tri thức, nay được ở trong hoa thai, thấy mình sung sướng hưởng dụng tự tại như đang ở cung trời Đao Lợi, những chủng tử Phật vốn đã ít ỏi chắc chắn sẽ cạn kiệt, vì thế cơ hội để giác ngộ thật là vô cùng khó. Vì thế Đức Phật ví người ở biên địa Cực lạc giống như vương tử của Chuyển Luân Thánh Vượng bị nhốt trong ngục bảy báu vậy: „Thí như Chuyển luân Thánh vương có bảy ngục báu để giam những vương tử nào mắc tội. Trong đó cũng có lầu các cung điện, màn báu, giường báu, lan can cửa sổ, giường ghế trang sức quý báu, ăn uống y phục được cấp dưỡng như Chuyển luân Thánh vương, nhưng bị trói chân bằng xích vàng, các tiểu vương tử này có thích ở nơi ấy không?
      Ngài Từ Thị Bồ Tát bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Dĩ nhiên không vui thích! Khi họ bị giam cầm không được tự do, chỉ muốn tìm đủ mọi cách để được ra khỏi ngục, lại cầu mọi thế lực cận thần giúp xin nhưng cũng không toại ý, bao giờ Chuyển luân Thánh Vương bằng lòng mới được giải thoát”.
      Này Di Lặc! Các chúng sanh này cũng lại như vậy. Vì có tâm nghi hoặc Phật trí, cho đến quảng đại trí, đối với thiện căn thiếu lòng tin sâu, do nghe danh hiệu Phật mà phát tâm tin thôi.
      Tuy sanh về cõi Cực Lạc ở trong hoa sen, nhưng không được ra khỏi hoa thai, trong đó cũng đủ vườn tược cung điện.
      Tại sao vậy?
      Trong hoa thai đó thanh tịnh không có uế ác, nhưng trong năm trăm năm không thấy Tam Bảo, không được cúng dường phụng sự chư Phật, xa lìa tất cả thiện căn thù thắng, do nỗi khổ đó nên không vui thích.
      Nếu như những chúng sanh này biết được tội đời trước, hết lòng ăn năn tự trách cầu được ra khỏi thai hoa, khi đã hết nghiệp rồi mới được ra khỏi, thẳng đến chỗ của Đức Phật Vô Lượng Thọ, được nghe kinh pháp, lâu sau cũng được giải ngộ hoan hỷ, cũng được đi khắp cúng dường vô số vô lượng chư Phật, tu tập các công đức”
      .

      Và Đức Phật kết luận: “Này A Dật Đa! Phải biết rằng tâm nghi hoặc tổn hại rất lớn, mất lợi ích lớn đối với Bồ Tát, nên phải tin tưởng minh bạch vô thượng trí huệ của Phật”.

      2. Và nguyên do người được sanh về Cực lạc nhưng được hoá sanh: „Nếu có chúng sanh tin rõ Phật trí, cho đến thắng trí, đoạn trừ nghi hoặc, gieo các thiện căn làm các công đức, chí tâm hồi hướng, nên được hóa sanh ngồi kiết già trong hoa thất bảo, khoảnh khắc được thân tướng quang minh, công đức trí huệ thành tựu đầy đủ như các bậc Bồ Tát vậy“.

      Và đức Phật nhấn mạnh: „Di Lặc Bồ Tát phải biết, hạng hóa sanh đó có trí huệ thù thắng. Hạng thai sanh kia trong năm trăm năm không thấy Tam bảo, không biết phép tắc của Bồ Tát, không được tu tập công đức, không có nhân duyên cúng dường Phật Vô Lượng Thọ, phải biết hạng người này do đời trước không có trí tuệ, sanh tâm nghi hoặc mà ra“.

      Hỏi: Vì quá khiếp sợ thân sau không biết có được thân người để nghe kinh pháp để tiếp tục niệm phật và được về với Phật hay không?

      Nếu ngay từ bây giờ bạn đã huân tập ý nghĩ mong có lại được thân người để tiếp tục nghe kinh pháp của Phật, và niệm Phật để về với Phật thì đây sẽ là một cản trở lớn cho hành trình vãng sanh Cực Lạc của bạn. Tại sao? Bởi bạn mong được lại thân người, mà khi thọ thân người bạn sẽ trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi. Lúc đó liệu bạn có thể đảm bảo mình sẽ sớm giác ngộ, sẽ gặp Phật pháp để tu hành để được về cõi Phật? Chắc chắn là không và khó vô cùng. Do vậy bạn chớ nên khởi vọng cầu có lại thân người để kiếp sau được thỉnh pháp, nghe kinh, niệm Phật rồi được vãng sanh; thay vì thế, ngay bây giờ, bạn hãy dũng mãnh phát Tín-Nguyện-Hạn bằng cách: Tin sâu-Nguyện thiết-Thực tâm hành. Được thế khi cận tử nghiệp ập tới bạn mới đủ định lực để hướng về Tịnh Độ, bằng không, chỉ một cơn vô thường ập tới, rất có thể nó đã đánh phá và triệt tiêu toàn bộ niềm tin vốn quá mong manh của bạn. Và như thế xác suất để thọ lại thân người lúc đó là ngàn cân treo sợi tóc.

      Hỏi: PHẬT THÍCH CA RA ĐỜI, HỌC ĐẠO, THÀNH PHẬT VÀ CUỐI CÙNG LÀ NGÀI ĐÃ NHẬP NIẾT BÀN TẠI ẤN ĐỘ. vậy tại sao người Ấn Độ không tôn thờ Ngài mà lại thờ thần linh? sao Phật giáo lại mất?

      Câu hỏi này Đạo hữu Hãy Niệm A Di Đà Phật đã hồi đáp rất cụ thể, tuy nhiên TN xin mạo muội góp thêm chút ý để bạn hiểu thêm về câu hỏi của mình:

      Chúng ta là người phát tâm tu đạo nên mọi hành vi động niệm nhất thiết phải luôn xoay ngược vào trong để chiếu soi tâm của chính mình. Tâm của chúng ta là gì? Đó là tâm phiền não, tâm vọng tưởng, chấp trước, phân biệt… chứ không nên xoay cái nhìn đó ra hướng khác.

      Đạo Phật là đạo giác ngộ vì thế ai giác ngộ người đó có cơ hội được giải thoát. Giải thoát đến đâu lại phụ thuộc vào hành trang tu đạo của mỗi người. Nói Ấn độ không tôn thờ Phật Thích Ca là không đúng, có chăng là người dân Ấn Độ thời nay phước báu của họ đã cạn kiệt, vì thế niềm tin nơi chánh Pháp cũng bị bào mòn theo. Nhưng đó là chuyện người. Chúng ta cũng là người đang phát tâm tu đạo Phật, kể như chúng ta đã có đủ phước báu nhân duyên, nhưng liệu thiện căn có và đã được tăng trưởng chưa; bồ đề tâm đã dõng mãnh chưa? Đã thực sự muốn chuyển hoá tâm phàm chưa? Đã thực sự muốn xa lìa cõi Ta bà này chưa? Đã thực sự tin tưởng tuyệt đối vào lời Phật dạy để nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ chưa…v.v… Tất cả những câu hỏi đó chúng ta phải thường đặt cho chính mình, thay vì đặt ra cho người khác. Phật nói: Phước ai nấy hưởng; nghiệp ai nấy mang; ông tu ông chứng, bà tu bà chứng; phước nhiều hưởng nhiều, phước ít hưởng ít, không phước không hưởng; Tu nhiều đắc nhiều, tu ít đắc ít, không tu không đắc.

      Hàng ngày chúng ta cứ chiêm ngẫm những lời Phật dạy để lo cho chính mình, đó là tự độ. Tự độ viên mãn, tất sẽ có cơ hội để độ tha nhân.

      Hỏi: sao Phật giáo lại mất?
      Phật giáo sẽ không mất và không bao giờ mất nếu như còn có người phát Tín-Nguyện-Hạnh và dũng mãnh tu học. Trong Kinh Phật nói Kinh Pháp Diệt Tận, đức Phật Thích Ca đã tuyên bày trước về thời kỳ chánh Pháp diệt tận, khoảng thời gian này còn cách chúng ta rất xa… nếu bạn được sanh về Tịnh Độ thì cơ hội để hoằng dương chánh Pháp đang đặt lên vai bạn đó. Đây là lý do tại sao người dân Ấn Độ thời nay không tin vào Phật pháp mà lại đi thờ thần linh.

      Dưới đây TN xin ghi lại hai phẩm quan trọng này để bạn và các liên hữu khác cùng đọc lại và suy ngẫm cho thật thấu đáo về những lời Phật dạy. Nguyện chúc các bạn bồ đề tâm kiên cố, dõng mãnh phát tâm một đời vãng sanh Cực Lạc.
      TN

      PHẨM 40: BIÊN ĐỊA, NGHI THÀNH

      Đức Phật bảo ngài Từ Thị: “Nếu có chúng sanh do tâm nghi hoặc làm các công đức, nguyện sanh về Cực Lạc, không rõ Phật trí, bất tư nghì trí bất khả xứng trí, Đại thừa quảng trí, Vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí, đối với các trí này nghi ngờ không tin, nhưng vì tin tội phước mà tu tập hạnh lành, nguyện sanh về Cực Lạc.
      Lại có chúng sanh chứa nhóm thiện căn, mong cầu Phật trí, phổ biến trí, vô đẳng trí, oai đức quảng đại bất tư nghì trí, đối với căn lành không sanh lòng tin, ý chí còn do dự đối với sự vãng sanh cõi Phật thanh tịnh, không có tinh chuyên, nhưng vì liên tục nhớ nghĩ không thôi kết thành thiện nguyện cũng được vãng sanh.
      Do những nhân duyên đó, những hạng người này tuy được sanh về Cực Lạc, nhưng không thể đến thẳng cõi Đức Phật Vô Lượng Thọ được, chỉ đến biên giới cõi Phật, ở trong thành thất bảo thôi. Không phải Đức Phật muốn như vậy, mà vì chính họ tạo nên tâm đến đó vậy. Ở đó cũng có ao sen thất bảo, tự nhiên thọ thân, ăn uống sung sướng như cõi trời Đao Lợi, nhưng ở trong thành đó không thể ra khỏi, nhà ở trên đất, không thể tùy ý cao lớn.
      Ở đó năm trăm năm không thấy Phật, không nghe được pháp, không thấy Thánh chúng Bồ Tát, Thanh Văn, trí huệ không sáng suốt, biết kinh pháp lại ít, tâm không mở mang, ý không vui vẻ, nên ở đó gọi là thai sanh.

      Nếu có chúng sanh tin rõ Phật trí, cho đến thắng trí, đoạn trừ nghi hoặc, gieo các thiện căn làm các công đức, chí tâm hồi hướng, nên được hóa sanh ngồi kiết già trong hoa thất bảo, khoảnh khắc được thân tướng quang minh, công đức trí huệ thành tựu đầy đủ như các bậc Bồ Tát vậy.

      Di Lặc Bồ Tát phải biết, hạng hóa sanh đó có trí huệ thù thắng. Hạng thai sanh kia trong năm trăm năm không thấy Tam bảo, không biết phép tắc của Bồ Tát, không được tu tập công đức, không có nhân duyên cúng dường Phật Vô Lượng Thọ, phải biết hạng người này do đời trước không có trí tuệ, sanh tâm nghi hoặc mà ra.

      PHẨM 41: HOẶC TẬN KIẾN PHẬT

      Thí như Chuyển luân Thánh vương có bảy ngục báu để giam những vương tử nào mắc tội. Trong đó cũng có lầu các cung điện, màn báu, giường báu, lan can cửa sổ, giường ghế trang sức quý báu, ăn uống y phục được cấp dưỡng như Chuyển luân Thánh vương, nhưng bị trói chân bằng xích vàng, các tiểu vương tử này có thích ở nơi ấy không?
      Ngài Từ Thị Bồ Tát bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Dĩ nhiên không vui thích! Khi họ bị giam cầm không được tự do, chỉ muốn tìm đủ mọi cách để được ra khỏi ngục, lại cầu mọi thế lực cận thần giúp xin nhưng cũng không toại ý, bao giờ Chuyển luân Thánh Vương bằng lòng mới được giải thoát”.
      Này Di Lặc! Các chúng sanh này cũng lại như vậy. Vì có tâm nghi hoặc Phật trí, cho đến quảng đại trí, đối với thiện căn thiếu lòng tin sâu, do nghe danh hiệu Phật mà phát tâm tin thôi.
      Tuy sanh về cõi Cực Lạc ở trong hoa sen, nhưng không được ra khỏi hoa thai, trong đó cũng đủ vườn tược cung điện.
      Tại sao vậy?
      Trong hoa thai đó thanh tịnh không có uế ác, nhưng trong năm trăm năm không thấy Tam Bảo, không được cúng dường phụng sự chư Phật, xa lìa tất cả thiện căn thù thắng, do nỗi khổ đó nên không vui thích.
      Nếu như những chúng sanh này biết được tội đời trước, hết lòng ăn năn tự trách cầu được ra khỏi thai hoa, khi đã hết nghiệp rồi mới được ra khỏi, thẳng đến chỗ của Đức Phật Vô Lượng Thọ, được nghe kinh pháp, lâu sau cũng được giải ngộ hoan hỷ, cũng được đi khắp cúng dường vô số vô lượng chư Phật, tu tập các công đức.
      Này A Dật Đa! Phải biết rằng tâm nghi hoặc tổn hại rất lớn, mất lợi ích lớn đối với Bồ Tát, nên phải tin tưởng minh bạch vô thượng trí huệ của Phật.
      Ngài Từ Thị Bồ Tát bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Tại sao có một hạng chúng sanh ở thế giới này tuy cũng tu thiện mà không cầu vãng sanh?”
      Này Từ Thị! Những chúng sanh này trí tuệ cạn cợt, phân biệt Tây phương không bằng cõi trời, do vậy không thích cầu sanh về cõi Cực Lạc.
      Ngài Từ Thị bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Những chúng sanh này luống dối phân biệt không cầu sanh về cõi Phật, làm sao thoát khỏi luân hồi”.
      Đức Phật nói rằng: “Các chúng sanh ấy có nhiều căn lành, nhưng không bỏ tâm phân biệt vọng tưởng, không cầu Phật huệ, tham đắm phước báo vui thú thế gian. Tuy cũng làm phước, nhưng chỉ cầu quả báo nhân thiên. Tuy được quả báo đầy đủ phong túc, nhưng chưa ra khỏi ngục tù tam giới.
      Giả sử cha mẹ, vợ con, nam nữ quyến thuộc mà không dứt bỏ dục tướng, tà kiến vọng chấp thì luôn ở trong vòng luân hồi không được tự tại. Hạng người ngu si đó không gieo căn lành, chỉ dùng thế trí biện thông thì tăng thêm tà kiến, làm sao ra khỏi đại nạn sanh tử được.
      Lại có chúng sanh tuy có gieo căn lành, tạo phước lớn, nhưng vẫn giữ tâm phân biệt, tình chấp sâu nặng, cũng cầu thoát luân hồi, nhưng không thoát được.
      Nếu đem cái trí huệ vô tướng mà làm các công đức, thân tâm thanh tịnh, xa lìa tâm phân biệt, cầu sanh về Tịnh Độ cho đến quả Bồ Đề, quyết được sanh về cõi Phật, vĩnh viễn giải thoát.

  8. ngọc hướng

    A DI ĐÀ PHẬT
    con xin cảm ơn lời giải thích, lời khuyên của tất cả liên hữu, TN nói đúng con chưa thật sự phát bồ đề tâm dõng mãnh và tâm con chưa thanh tịnh, chưa buông xả vạn duyên, nhưng con sẽ cố gắng từng ngày, từng ngày tu sửa từng chút và con tin là với sự kiên trì đọc tụng kinh VLT tâm con sẽ được khai sáng.

  9. Thanh Tam

    Thân gửi các thầy,
    Con muốn bắt đầu tụng kinh niệm phật, chưa biết bắt đầu từ sách nào, đọc những sách nào. Kính mong các thầy chỉ bảo thêm.

    Con cám ơn nhiều.

    • Hãy Niệm A Di Đà Phật

      A Di Đà Phật
      Chào các vị thiện tri thức.Hôm nay mình mạnh dạn chia sẻ với mọi người về việc đọc kinh Vô Lượng Thọ.Thật ra đối với những vị đã chuyên tâm tụng kinh,niệm Phật thì mình chẳng dám nói.Đại để là đối với những người mới tu tịnh độ,mới đọc kinh Vô Lượng Thọ.Mình biết có một số người hơi dị ứng với chữ nghĩa,tức là khi mở kinh ra họ thấy toàn là chữ dày đặc khiến họ cảm thấy rối mắt,buồn ngủ,nhàm chán dẫn đến việc không thể đọc hết bộ kinh này.Thì đây mình xin giới thiệu bộ kinh Vô Lượng Thọ này ngoài phần chữ ra còn có hình ảnh kèm theo,có thể làm cho dễ đọc hơn.Chỉ có 70 trang thôi,mỗi ngày đọc 5-10 trang thì chỉ trong 7-15 ngày là đọc xong 1 lượt.
      https://drive.google.com/file/d/0B3gzAB5z0zSxR0cxdldKZnhuRlk/view?usp=sharing
      Đồng thời với việc đọc kinh bạn kết hợp xem video clip này.clip này chưa đầy 1 tiếng.Theo như mình thì clip này cực hay.
      https://www.youtube.com/watch?v=WV-2YqBBjYM&list=PL7Em2hP9ICFMDZJBl7N-aePtJQJn56xxt&index=10
      Chúng ta tâm còn loạn động chưa thể chuyên tâm được,thời gian đầu để đưa kinh Vô Lượng Thọ vào trong tâm phải dùng đủ mọi phương pháp.Khi nào chán đọc kinh,thì chuyển sang xem video.Khi chán xem thì lại đọc kinh.Cứ thế bổ xung cho nhau trong vòng khoảng 2-3 tháng thì cũng đọc hết được bộ kinh này ít nhất là 3 lần.Khi đã đọc 3 lần thì mình nghĩ ít nhiều cũng có ấn tượng với bộ kinh Vô Lượng Thọ,ít nhiều cũng biết được bộ kinh này nói về điều gì.
      Sau đó nếu bạn muốn tìm hiểu hơn bộ kinh Vô Lượng Thọ thì đọc bạn chú giải này của ngài Hoàng Niệm Tổ.
      https://drive.google.com/file/d/0B3gzAB5z0zSxU3dWaW9TSHdzQ3c/view?usp=sharing
      Bản chú giải này rất sâu và rộng.Nếu ngay từ đầu bạn đọc bản này,e rằng một số người không đọc nổi vì nó rất dài.Không phải là đọc vài tháng mà là đọc hàng năm.Nhưng theo mình nghĩ nếu như bạn đã đọc bản chánh kinh và xem video phía trên trong vòng 2-3 tháng thì khi đọc bản của ngài Hoàng Niệm Tổ thì cũng cảm thấy dễ đọc hơn.
      -Ngay từ đầu chuyên tâm niệm Phật là khó.Cho nên phải đọc kinh Vô Lượng Thọ.Do đọc kinh mà bạn biết về đại nguyện của A Di Đà Phật,từ đó mà phát sanh bồ đề tâm. Do đọc kinh mà bạn biết về cảnh giới thù thắng trang nghiêm của Cực Lạc,từ đó hâm mộ mà phát nguyện cầu sanh Cực Lạc. Do đọc kinh mà bạn biết hết thảy đại nguyện và sự trang nghiêm Cực Lạc đều ở trong câu A Di Đà Phật,từ đó mà kiên cố dứt bặt lòng nghi mà chuyên tâm niệm Phật cầu sanh Cực Lạc.
      A Di Đà Phật

  10. Nguyễn Thị Hằng

    A di đà phật.
    Con muốn tụng kinh Vô Lượng Thọ nhưng thưa thầy nhà con không có bàn thờ Phật,vậy nghi thức con tụng như thế nào là đúng ạ?,hay con ngồi ở chỗ sạch,ngồi xếp bằng chắp tay rồi đọc theo lời tụng???
    Con kính mong các quý thầy chỉ giáo giúp con ạ
    Con đây xin chân thành cảm ơn!

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *


5 + = 6

Xin hoan hỉ viết tiếng Việt có dấu. Chọn kiểu gõ: TELEX VNI VIQR OFF

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>