Đôi Dòng Tỏ Bày

Đôi Dòng Tỏ Bày

L à người học Phật chúng ta phải lấy chuyện giải thoát sanh tử luân hồi làm đại sự, tất cả mọi điều khác trên thế gian đều là thứ yếu. Trên con đường học đạo, tìm được đúng pháp môn hợp với căn cơ của mình rất quan trọng, nhưng điều tối quan trọng hơn cả là chọn pháp môn hợp với thời cơ. Ví như người vận y phục phải phù hợp theo mùa: mùa đông mặc áo bông, mùa hạ mặc áo vải. Nếu có một bộ y phục đẹp và vừa ý với mình nhưng mặc không đúng mùa thì cũng trở nên vô dụng. Trong kinh Đại Tập nói rằng thời Chánh Pháp (gồm 1.000 năm từ lúc Phật thành đạo) tu Giới Luật được thành tựu. Thời Tượng Pháp (1.000 năm kế tiếp) tu Thiền Quán được thành tựu. Thời Mạt Pháp (10.000 năm tiếp theo) tu Tịnh Độ được thành tựu. Hiện nay Phật lịch của chúng ta là năm 2554 (2010 DL) tức là chúng ta đang ở vào thời kỳ Mạt Pháp. Cho nên nếu người tu Phật thời nay muốn thành tựu lý tưởng giải thoát thì nên tu theo pháp môn Tịnh Độ (hay còn gọi là Niệm Phật).

Đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói trong Kinh Đại Tập Nguyệt Tạng rằng:
Thời Mạt Pháp ức ức người tu hành hiếm có người đắc đạo. Duy chỉ có pháp môn Niệm Phật A Di Đà mà ra khỏi luân hồi.

Đã là một Phật tử tức là con Phật, chúng ta không thể không vâng theo lời dạy của đấng cha lành là đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng sanh thời xưa nhờ có phước báu nhiều nên mới có thể gặp được Phật và các bậc chứng đạo A La Hán, Bồ Tát để tu hành sớm ngày chứng quả. Thời nay do cách xa thời của Phật quá nhiều, phước báu của chúng sanh rất ít nhưng trái lại nghiệp chướng quá sâu dày. Nếu tu theo các pháp môn khác khó bề thành tựu cũng như khó tìm được người chứng quả để học đạo. Vì đã biết trước điều ấy nên đức Phật Thích Ca mới từ bi thương xót chỉ bày chúng ta tu theo pháp Niệm Phật (hay còn gọi là pháp môn Tịnh Độ). Tu theo pháp môn này được thành tựu vào thời bây giờ vì nhờ vào nguyện lực của một vị Phật, hiện ngài chưa nhập diệt và vẫn còn đang nói pháp tại cõi Tây Phương Cực Lạc, cách thế giới Ta Bà chúng ta 10 muôn ức cõi Phật. Thuở lâu xa trước khi ngài thành Phật, tiền thân của ngài là tỳ kheo Pháp Tạng đã có lời thệ nguyện cứu độ chúng sanh như sau:

Khi tôi thành Phật chúng sanh trong mười phương lúc lâm chung chí tâm niệm danh hiệu tôi dẫu từ một niệm cho đến mười niệm, nếu tôi không hiện thân ra trước mặt người ấy để tiếp dẫn về cõi nước tôi, tôi thề sẽ không ở ngôi vị Chánh Đẳng Chánh Giác. (Kinh Vô Lượng Thọ – nguyện thứ 18)

Vị tỳ kheo ấy nay đã thành Phật được 10 kiếp hiệu là A Di Đà. Nếu ai TIN nghe theo lời trên, một lòng NGUYỆN được sanh về Tây Phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà sau khi mãn thân người, từ giờ cho đến ngày cuối đời chuyên TRÌ NIỆM danh hiệu A Di Đà Phật thì chắc chắn sẽ được vãng sanh (vãng sanh là khi lâm chung được Phật cùng Thánh chúng đến tiếp dẫn về cõi Phật.) Đó chính là pháp tu Tịnh Độ. Người tu theo các pháp môn khác để giải thoát sanh tử phải dùng tự lực của mình để đoạn hết các Kiến – Tư phiền não nên phải mất vô lượng kiếp mới thành tựu. Ví như đức Phật Thích Ca tu hành tại thế gian Ta Bà này đã mất 3 đại a tăng kỳ (tức 3 giai đoạn vô lượng kiếp không thể tính kể ra số được) mới thành Phật. Thế nhưng nếu chúng ta nương vào nguyện lực của Phật A Di Đà, không cần phải đoạn hết các phiền não và quyết tu cho được vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, nơi ấy tuổi thọ của chúng sanh dài vô hạn cũng như được gần gũi với Phật và các vị bồ tát để học đạo thì chúng ta sẽ sớm ngày thành đạo quả. Như vậy Tịnh Độ pháp môn chỉ cần một đời hiện tại là chúng ta có thể thành công. Tu như thế được gọi là vừa có tự lực vừa có tha lực (tự nổ lực niệm Phật và tha lực tiếp dẫn vãng sanh của Phật). Người tu theo các pháp môn khác gọi là tự lực (tự mình tu cho đến khi phiền não dứt sạch và chứng được một trong bốn quả vị Thanh Văn mới có thể tự giải thoát khỏi vòng luân hồi.)

duong_ve_coi_tinh_avatarNgười tu theo pháp tự lực tựa như con mọt ở cuối thân tre muốn thoát ra khỏi ống tre phải đục thủng từng đốt tre theo chiều dọc từ gốc lên tới ngọn mới có thể chui được ra ngoài. Người tu theo pháp tha lực ví như con mọt đục ngang thân tre để chui ra ngoài rất mau chóng không cần mất nhiều thời gian. Hiểu được lý này chúng ta không thể bỏ qua pháp môn Tịnh Độ, chỉ cần một đời là có thể đạt được lý tưởng giải thoát. Điều này cũng không nằm ngoài lý nhân quả trong nhà Phật: gieo nhân nào gặt quả nấy. Nhân niệm Phật thì quả sẽ là thành Phật.

Để giúp cho các bạn đang cầu đạo tìm đúng hướng đi trên con đường giải thoát cũng như hợp với căn cơ của người bận rộn thời nay, Đường Về Cõi Tịnh được mở ra với mong ước các bạn có thêm sự tham khảo cần thiết cho việc tự học tự tu. Các tài liệu hầu hết được chúng tôi thu thập từ các chư cổ đức đã đi trước và các vị tổ sư Tịnh Độ qua các bài viết và lời giảng từ xưa đến nay.

Nếu như việc làm này có chút công đức nào, chúng tôi xin thành tâm hồi hướng tất cả cho chúng sanh thập phương thế giới, nguyện cùng kết pháp duyên, đồng sanh Tây Phương đồng thành Phật đạo.

Cao Nguyên Tình Xanh Washington
17 tháng 8 năm Canh Dần 2010
BBT Đường Về Cõi Tịnh

Tây Phương Tam Thánh tiếp dẫn vãng sanh

Nếu ai tin tưởng và một lòng nguyện sanh về Tây Phương Cực Lạc, chí tâm niệm hồng danh A Di Đà Phật đến cuối đời sẽ được Tây Phương Tam Thánh hiện thân đến tiếp dẫn vãng sanh. Từ trái qua phải: Đại Thế Chí bồ tát, A Di Đà Phật, Quán Thế Âm bồ tát (3 vị này được gọi là Tây Phương Tam Thánh).

Các Bài Pháp Khác:

CHIA SẺ BÀI VIẾT:

974 Phúc đáp

  1. Trần Văn Thiên

    Thưa Thầy, Đệ Tử xin hỏi: chấp trước nghĩa là gì? Cái này Đệ Tử hình dung chưa rõ.
    Ngã mạn là gì? Đệ Tử hình dung chưa rõ.
    Xin Thầy giải đáp cho Đệ Tử.
    Kính chúc quý sư, quý Phật Tử mạnh khỏe.

    • Nguyễn Đạt

      Nam Mô A Di Đà Phật
      Thưa Trần Văn Thiên, trước khi “Thầy” trả lời NĐ xin có chút ý kiến:
      Chữ “chấp” có nghĩa là bám víu vào; “trước” có nghĩa là dính chặt vào đó
      Để dễ hình dung ta tạm giải thích: Chữ “chấp” (執) phồn thể là chữ “hạnh” (幸) trong “hạnh phúc” cộng với chữ “hoàn” (丸) trong “hoàn tử” (丸子) [nghĩa là viên, vật nhỏ vê tròn]; như vậy có thể lý giải rằng “chấp trước” chính là đem một thứ nhỏ như “viên” coi là hạnh phúc, tức là coi trọng thứ không đáng, nắm lấy thứ chẳng đáng mà không buông bỏ. Tay cầm hạt viên, ý tứ đại để giống nhau, cũng không khác là mấy, cầm thứ chẳng đáng cầm.
      “…do tâm niệm của con người qua các việc như: Chấp có, chấp không, chấp thường, chấp đoạn, chấp ngã, chấp ái, chấp ta, chấp người v.v…
      Đầu tiên là chấp có. Ví dụ như chấp vào thân, tài sản, địa vị, sự nghiệp v.v… Thân nầy do tứ đại hợp thành, gồm có: đất, nước, gió, lửa; nhưng những thứ nầy không có thật tướng. Thoạt có, thoạt không. Thế mà ta nghĩ rằng nó vĩnh viễn có thật bên mình. Cái thân nầy từ trẻ đến già phải trải qua 4 giai đoạn của thành, trụ, hoại, diệt. Thế nhưng con người vừa chấp chặt vào nó, cho nó thật là của mình; nhưng trên thực tế thân nầy bị vô thường biến đổi. Điều nầy rất hợp với thuyết duyên khởi. Đó là: tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh. Tất cả các pháp đều do nhân duyên diệt và tự tánh của các pháp là không. Ai hiểu được pháp duyên khởi, người ấy sẽ hiểu được Phật Pháp và ai hiểu được Phật Pháp, người ấy sẽ hiểu được pháp duyên khởi.
      Chính vì chấp vào thân nầy là của ta, tài sản nầy của ta, vợ con nầy của ta, địa vị nầy của ta, con cái nầy của ta, sự nghiệp nầy của ta v.v… nhưng người học Phật phải nhìn kỹ và nhìn sâu vào sự việc để thấy bên trong tất cả những điều nầy đều ẩn chứa sự khổ và chính sự khổ nầy con người không biết diệt nó; nên mới sinh ra thất vọng, hối tiếc, bi quan. Vì lẽ ta chấp trước vào nó quá nhiều.
      Về chấp ngã cũng tương tự như vậy. Ta chấp cái nầy là của ta; cái nầy thuộc về ta. Đôi khi ta nổi lên sân si, giận dữ. Vì lẽ ta cho mình là đúng, còn người đối diện sai. Nhưng chắc gì ta đã đúng. Vì khi cơn giận dữ ngự trị nơi tâm thức, thì lúc ấy chân lý đi chỗ khác, không hiện hữu, chỉ còn lại sự chấp ngã, tồn tại. Sở dĩ ta nóng giận, vì ta muốn chứng minh cho mọi người biết rằng điều ta nói, điều ta suy nghĩ, điều ta hành xử là đúng. Do vậy mới chứng tỏ một một uy quyền để bắt người khác phải tuân phục. Đa phần sự nóng giận dẫn theo sự nghi ngờ và cố chấp. Từ đó sinh ra rất nhiều việc sai trái; nhưng cái ngã của ta không chịu thừa nhận mà lại còn kéo theo những cái liên hệ thuộc về ta nữa. Để đối trị lại vấn đề chấp ngã nầy ta nên quán sát nơi tự thân của mỗi người là cái ngã nầy không thật có. Nó chỉ là một ảo ảnh, một cảm giác. Thoạt có, thoạt không, ẩn ẩn, hiện hiện; không nơi chốn; nhưng lại hay tới lui cổ động việc dở xấu của mình. Hãy chiêm nghiệm và quán sát cho thật kỹ, vì cái ngã không có thật. Nếu ngã có thật thì ta phải làm chủ nó, tại sao ta phải bị lệ thuộc vào nó ?
      Về chấp trước của tâm thức nầy còn hay mất sau khi chết cũng như vậy. Có người thì cho rằng: Chết là hết, chẳng có cái gì theo sau nữa. Có người lại bảo rằng: Chết không phải là hết, mà còn mãi với thời gian nầy. Vậy đâu là sự thật ?

      Đức Phật với cái nhìn siêu việt của trí tuệ, Ngài thấy rõ và quán chiếu thế gian nầy cũng như tâm thức của chúng sanh trước khi sinh ra đến lúc đầu thai và sau cái chết. Tất cả đều được thay đổi theo nghiệp lực và thức biến hiện, để tạo thành một chúng sanh ở cõi nầy và nhiều cõi khác nữa.

      Theo kinh Đại Bảo Tích Phẩm Nhập Thai Tạng Pháp Giới, Đức Phật đã phân tích kỹ càng, chi tiết từng loại đi đầu thai như thế nào khi vào bụng mẹ. Thật ra khi một người nam và một người nữ có ý niệm hành dục với nhau, ngay lúc ấy một tâm thức hiện hữu bên ngoài đã cố bám víu vào để thành con của hai người nam nữ được gọi là cha mẹ đó. Như vậy một chúng sanh được hình thành từ tư tưởng lúc ban đầu của vợ chồng, khế hợp với tâm thức của một chúng sanh sắp gá vào sự phối hợp giữa nam và nữ để tạo thành một con người trong tương lai. Theo tánh dục, nếu tâm thức ấy là con gái, nó sẽ nhận cha nó trong tương lai, ngay lúc ấy là chồng của nó. Nếu tâm thức là con trai, nó sẽ nhận người mẹ trong tương lai, ngay lúc gá thai là vợ của nó. Từ đó nó yêu thương ấp ủ, sống chết để chờ ngày sinh ra báo ân hoặc báo oán. Rồi trưởng thành, rồi già chết, rồi tiếp tục đi đầu thai trong luân hồi sanh tử.

      Riêng các vị Bồ Tát chỉ gá vào thai mẹ để sinh ra đời. Cho nên Bồ Tát đứng bên hông phải của người mẹ, chứ không gá vào tử cung. Do vậy khi sinh ra, Bồ Tát từ hông bên phải của người mẹ để chào đời; chứ không ra khỏi cửa mình của người mẹ như bao đứa trẻ phàm phu khác. Đây là nhân duyên, đây là nghiệp lực, đây là sinh tử luân hồi. Cứ vay trả, trả vay hết đời nầy qua đời nọ; nhưng vì căn bản của chúng sanh là vô minh; nên dễ bị đắm trước bởi tất cả những chấp ngã, chấp ái, chấp thuờng, chấp đoạn ấy. Bậc trí thức sẽ biết rõ mình lối đi về, còn đa phần phàm phu không trí tuệ, cứ để cho nghiệp lực sai sử và dẫn dắt đi đến đâu thì nương vào đó, để rồi mãi mãi vẫn đau khổ, khổ đau mà thôi.
      Thương và ghét cũng như vậy. Đây là những cặp đối đãi của 8 loại gió nghiệp. Trên thực tướng chúng bị chi phối bởi sự chấp trước của con người. Ví dụ như khi thương thì „trái ấu cũng tròn“ mà ghét nhau thì „trái bồ hòn cũng méo“. Tại sao vậy ? Đây chính là do tâm chấp thủ của con người mà ra. Đối tượng để mình thương và được thương, vì nó hợp với nhãn quan qua tia quang phổ chấp vào tướng của mình. Mình cho người đối diện mình là đẹp, trong khi đó những người khác, thì ngược lại. Vì không hợp với tầng số của sóng ái; nên kẻ khác cho là xấu; nên không thương và trở nên xa lánh; nhưng sự thương, yêu ấy chẳng được bao lâu lại sanh ra ghét gỏng, đổ vỡ.Lý do là người nam đã thỏa mãn sự chiếm thủ rồi, bây giờ họ lo đi tìm đối tượng khác. Trong khi đó người nữ, khuynh hướng nương tựa, cậy nhờ không còn tiếp tục nữa; nên người nữ sinh ra thù ghét đối phương và tìm đủ cách để xa lánh. Vậy thì cái thương yêu mới đó nó đã đi đâu rồi ? Nó có thật chăng ? hay chỉ là một trò huyễn hóa ? Điều quan trọng của người học Phật là phải nhận chân ra mặt mũi thật, hư của nó.

      Giận hờn và oán trách cũng lại như vậy. Tất cả đều do sự chấp trước mà ra. Sở dĩ chúng ta tự giận mình hay giận người đối diện. Vì lẽ mình không tự làm vừa lòng mình hay người khác không làm thỏa mãn điều mình mong đợi; nên mình sinh ra hờn trách và oán than. Sở dĩ có việc nầy, vì ta lấy cái ta làm chủ thể để so sánh. Nó phải như thế nầy hay như thế kia. Nó phải như thế nầy hoặc như thế nọ. Nhưng tất cả sự hy vọng ấy nó không đến với mình, thế rồi cái ta đó làm chủ, nó khiến cho mình mù quáng, đâm ra hờn trách, giận giỗi đối phương. Đôi khi đối phương chẳng có lỗi nào. Lỗi ấy chính do mình tạo ra mà thôi. Nếu ta biết rằng: hãy đừng hy vọng gì nơi người đối diện thì chẳng có gì để thất vọng cả. Vì ta hy vọng quá nhiều; nên đâm ra thất vọng và từ đó sinh ra giận hờn và oán trách. Nếu chúng ta tự đặt mình ngược lại là đối phương, thì ta không có lý do gì để oán trách cả.
      Hạnh phúc và đau khổ cũng không nằm ngoài khuôn khổ của sự chấp trước nầy. Đa phần mọi người khi mới cưới hỏi nhau đều chúc cho nhau được „trăm năm hạnh phúc“. Nhưng không biết có được bao nhiêu cặp trên thế gian nầy có được đến cả trăm năm mà không có vấn đề nan giải trong cuộc sống ? Cái hạnh phúc ấy thật ra chẳng bao nhiêu mà sự khổ đau lại có quá nhiều hình tướng. Ít thấy ai trang trải hạnh phúc của mình cho người khác nghe, mà đa phần chỉ nghe về khổ đau và tục lụy. Vậy thì cuộc đời đâu có gì vui mà con người mãi bám víu như vậy.
      Nói về nghiệp thì cũng có thiên hình vạn trạng; nên chúng sanh cũng có nhiều loại khác nhau để thọ nghiệp nhân hay nghiệp quả. Thế nhưng nghiệp nầy cũng có thể hoán chuyển được; nếu chúng ta biết cách tu tập. Nó cũng giống như sự chấp trước bên trên. Nếu con người biết hoán chuyển thì ta có thể thoát ra khỏi sự chấp trước nầy. Ví như một nắm muối bỏ vào trong một ly nhỏ, ta không thể hòa nước ra để uống được; nhưng nếu cũng nắm muối ấy đem hòa vào trong nước giếng thì ta có thể uống như thường. Vì lẽ muối đã tan đi và nghiệp cũng thế. Nếu ta biết bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, Thiền định và Trí tuệ qua lục độ vạn hạnh nầy thì nghiệp ấy sẽ trải mỏng ra, khiến ta có thể nhanh chóng hội nhập vào con đường Bồ Tát hạnh. Nếu chúng ta vẫn luôn luôn chấp chặt, cố thủ thì sự chấp trước ấy khó mà nới lỏng ra để hòa tan cùng những hạnh nguyện khác. Nhanh hay chậm; tốt hay xấu. Tất cả đều do ta; không ai có thể thay thế cho chúng ta trong trường hợp nầy được cả. ” – Trích
      Kính chúc TVT mạnh khỏe, tu tập được lợi ích.
      Có sai sót mong chư vị tri thức góp ý. Con xin hoan hỉ tiếp thu.
      Nam Mô A Di Đà Phật!

  2. Trần Văn Thiên

    Vậy: sân hận là biểu hiện của sự chấp trước.
    Si mê là biểu hiện của sự chấp trước.
    Tham lam, tham ái là biểu hiện của sự chấp trước.
    Không nghe người khác trình bày, mà tìm lỗi sai của người khác để khinh chê, nghi ngờ; phê bình… là biểu hiện của sự chấp trước.
    Cao ngạo, ngã mạn cũng là chấp trước.
    Khinh thường người khác cũng là chấp trước.
    Đệ tử nhận diện tính chấp trước như vậy.
    Thưa Quý Thầy, khi nó khởi lên Đệ Tử dùng câu danh hiệu Phật đối trị.
    Cảm ơn Quý Thầy!

  3. NMADDP

    Mình xin giới thiệu hội từ thiện Phật Giáo Từ Tế (慈濟 – Tzu Chi)dưới sự lãnh đạo của Ni Sư Chứng Nghiêm – Từ (bi) (cứu) Tế. Là một tổ chức nhân đạo phi lợi nhuận có mặt khắp thế giới. Nơi nào có khổ nạn hội Từ Tế đều đến giúp đỡ. Là hội Từ thiện Phật giáo lớn nhất thế giới.

    Mình rất hâm mộ những người làm nghĩa công trong hội từ thiện Phật Giáo Từ Tế này. Lúc làm bố thí, lúc nào cũng cúi chào và dâng bằng hai tay để giao tặng tài vật cho người nhận.

    Trang youtube của chi nhánh TZUCHI VIETNAM
    https://www.youtube.com/channel/UCv2GzBPGnN6RCfvbAk5TR_Q
    và trang khác
    https://www.youtube.com/user/Linhdancy111/videos

    Video nói về Ni Sư Chứng Nghiêm (phụ đề Việt ngữ)
    https://www.youtube.com/watch?v=R5GpqpHcoiY (1/3)
    https://www.youtube.com/watch?v=iyPOdiUgp-E (2/3)
    https://www.youtube.com/watch?v=-gxONZleRj0 (3/3)

    Video – Vì sao phải ăn chay
    https://www.youtube.com/watch?v=jlMamu6YCiQ

    Tzu Chi Việt Nam – Tin tức DAAI – 03/08/2017 – Phát tặng bồn nước inox tại Ba Tri – Bến Tre
    https://www.youtube.com/watch?v=fNA-aTuwqKo

    Tzu Chi Việt Nam – Tin tức DAAI – 01/06/2017 – Khám bệnh từ thiện tại Tiền Giang
    https://www.youtube.com/watch?v=NBNklNDI0wo

    Nam Mô A Di Đà Phật

  4. Trần Văn Thiên

    Thưa Quý Thầy, Đệ Tử xin hỏi: 4 nhiếp pháp, 4 vô lượng tâm, 37 phẩm trợ đạo, 6 ba-la-mật hiểu như thế nào về nghĩa của chúng?
    Trong kinh niệm phật ba-la-mật có nói: lại nữa, phải đem công đức hành 6 ba-la-mật, 4 nhiếp pháp, 4 vô lượng tâm, hoặc 37 phẩm trợ đạo mà hồi hướng…
    Vậy nghĩa là sao, hành như thế nào, công đức là thế nào, công đức của các pháp trên là gì?
    Hồi hướng là thế nào? Tại sao phải hồi hướng? Hồi hướng cho chúng sanh, cho cõi Tây Phương nghĩa là sao? Phải hồi hướng theo cách thức nào?
    Xin Quý Thầy giải đáp thắc mắc giúp Đệ Tử?

    • Thiện Nhân

      A DI ĐÀ PHẬT´

      Gửi bạn Trần Văn Thiên,

      *Những điều bạn hỏi có liên quan tới hạnh đại thừa hay còn gọi là Bồ tát hạnh, vì thế để tìm học thật sâu sắc giáo lý đại thừa là điều bạn cần phải cân nhắc thật kỹ lưỡng và nên chọn lọc những gì phù hợp với căn cơ cũng như đại nguyện của mình để tu học, như vậy sẽ có lợi lạc thiết thực.
      – Tứ nhiếp pháp bao gồm: Bố thí nhiếp; Ái ngữ nhiếp; Lợi hành nhiếp; Ðồng sự nhiếp.
      – Tứ vô lượng tâm bao gồm: Từ, bi, hỉ, xả
      – 6 Ba la mật còn gọi lục độ ba la mật bao gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ
      – 37 phẩm trợ đạo gồm: Bát chánh đạo; Tứ niệm xứ; Tứ chánh cần; Tứ như ý túc; Năm căn; 5 lực; Thất bồ đề phần.

      Bạn hoan hỉ tham khảo chi tiết tại đây nhé:
      1.Tứ nhiếp pháp
      2.Tứ vô lượng tâm
      3.Lục Độ Ba La Mật
      4. 37 Phẩm Trợ Đạo

      *Ý nghĩa của hồi hướng
      *Phước đức và Công đức

  5. NguyenPhu

    A Di Đà Phật.
    Năm mới lại đến, xin kính chúc toàn thể liên hữu cùng gia đình luôn luôn an lạc, đạo tâm vững chắc, cùng nhau tìm về đất Phật.
    Năm mới bình an.
    Năm mới bình bình an.

  6. Trần Văn Thiên

    Kính chúc Phật Tử hạnh phúc , bình an.
    Cẩn thận nhân quả.
    Không vi phạm.
    Tư duy kỹ lưỡng.
    Giúp mình, giúp người.
    Không màng tự lợi.
    Hiếu đạo phụng hành.
    Nhớ lời Phật dạy.
    Nhớ và làm.
    Nam mô A Di Đà Phật.
    Mỗi phúc giây phiền não.
    Mình lại niệm Di Đà.
    Chăm chú mà lắng nghe.
    Mỗi câu cho rõ ràng.
    Mỗi niệm cho phân minh.
    Buộc thân, tâm, ý một chỗ.
    Cứ nhất niệm cho đầy đủ.
    Hồng danh Phật Di Đà.
    Niệm xong nhớ hồi hướng.
    Cho gia đình và chúng sanh.
    Hưởng quả công đức này.
    Quay về bờ giác ngộ.
    Cùng đi về Cực Lạc.
    Hội ngộ chung một nhà.
    Kính Phật Di Đà.

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Ngừa thư rác *