Có cặp mẹ chồng nàng dâu kia, là tín đồ thuần thành của chùa. Năm đó chùa chuẩn bị trùng tu, nên hướng đại chúng quyên góp. Hai mẹ con này sau khi bàn bạc một hồi lâu, thì quyết định đem khối đá to là của gia bảo tổ tiên để lại dâng cúng cho chùa với mục đích làm bia hoặc làm nền chùa. Cúng xong hai mẹ con đều rất hoan hỉ.
Khi đó thầy Quản viện quyết định sẽ đặt viên đá này làm nền trang trí trong chùa, nhưng sau đó chùa mua được đá bên ngoài làm nền, nên khối đá quý bị sư Tri khách lấy làm đá lót đường đi. Sau khi chùa tu sửa xong, hai mẹ con nọ nhìn thấy tảng đá gia bảo của họ bị dùng làm đá lót đường, trong lòng phẫn nộ không nguôi, nhưng việc đến nước này rồi, chùa cũng đã xây xong, họ không thể nói được gì, đành nhẫn nhục nuốt giận. Thế nhưng, khách đến dâng hương khi đi qua tảng đá lót đường này, ai cũng tấm tác suýt xoa khen tảng đá kia quá đẹp nhưng bị dùng lãng phí.
Nhiều năm trôi qua, việc này đi vào quên lãng. Năm nọ, sư Tri khách lâm trọng bệnh qua đời, Tăng chúng trong chùa lo làm lễ siêu độ. Trong thời gian này có vị Tăng là bạn thân của ông, nằm mơ thấy ông toàn thân đầy thương tích, mắt đầm đìa lệ, bảo rằng:
– Tôi hiện đang bị dọa địa ngục thọ khổ, xin hãy cứu tôi.
Vị Tăng này hỏi:
– Bình thường huynh trì giới tu hành tốt, đâu thấy phạm lỗi gì, sao có thể xuống địa ngục thọ khổ được chứ?
– Có chuyện này thầy không biết, mấy năm trước lúc chùa tu sửa, có hai mẹ con nọ mang đá đến cúng. Tôi nhất thời hồ đồ đem dùng làm đá lót đường, đây là của gia bảo do tổ tiên họ để lại, mà họ phát đại tâm hiến cúng. Nhưng tôi lại cầm của báu sung làm đá lót đường cho người khác mặc tình dẫm đạp, vì vậy tội rất nặng. Do tội này mà tôi phải xuống địa ngục, cũng chính vì vậy mà tôi bị tiêu phúc giảm thọ. Xin thầy hãy mau cứu tôi.
– Nhưng chúng tôi phải làm sao để cứu ông?
– Bảo chúng Tăng hãy mau đào tảng đá đó đem lên, đem làm bia đá, để mọi người đảnh lễ thắp hương, như vậy mới có thể giải tội cho tôi.
Sau khi chúng Tăng đào đá lên khắc kinh vào đó rồi, thầy Tri khách lập tức thoát khỏi địa ngục, thác sinh vào nhân gian. Câu chuyện này tôi rất muốn kể cho mọi người nghe, vì tôi nhìn thấy chúng cư sĩ lẫn người xuất gia đều lơ là không cẩn trọng đối với nhân quả, thường dùng sai tiền đàn việt quyên góp. Thí như người cúng tiền phóng sinh, bạn lại đem in kinh. Người ứng tiền in kinh bạn lại dùng xây chùa, toàn dùng làm sai ý.
Thực ra làm vậy là không tốt. Trừ phi trước đó được chủ nhân đồng ý chấp nhận thì bạn mới có thể làm khác. Nếu không sẽ rất dễ vướng tội. Nhiều cơ quan từ thiện và đoàn thể Phật giáo thường thu của tín chủ đóng góp, nhưng hiện nay thường hồ đồ dùng sai làm bậy, tạo tội rất nghiêm trọng. Có người cho rằng dù sao họ cũng không tham ô, chỉ đem của người xây chùa cứu nghèo hoặc in kinh. Nhưng chính hành vi làm không đúng nguyện vọng người đóng góp sẽ chiêu lấy đại tội, đều bị nhân quả trừng phạt. Muốn không làm sai nhân quả, tốt nhất không được làm sai ý tín chủ. Người cúng nói cầm tiền dùng để làm gì thì bạn phải làm đúng y như vậy. Nếu làm không được thì tốt nhất chẳng nên nhận tiền, bởi vì nếu bạn cứ làm đại, ẩu… sẽ tự chiêu lấy tội.
Trong tháng ngày mới học Phật, câu chuyện này gây ấn tượng cực kỳ sâu sắc cho tôi, giúp tôi biết tin sợ nhân quả, hiểu nhân quả rất lợi hại, vì vậy quý vị phải hết sức cẩn trọng. Bởi những tội này, chúng ta đều có thể phạm qua mà không hề hay biết. Giờ đây đã minh lý, thì phải lập tức đoạn ác tu thiện. Bất kể hiện nay bạn bao nhiêu tuổi, chỉ cần trước khi lâm chung, sớm biết lỗi sám hối, thì đều có thể miễn trừ quả báo đọa tam ác đạo. Huống chi hiện giờ chúng ta thân thể khỏe mạnh, có được điều kiện tụng kinh, hiểu Đạo, nhiếp tâm giữ giới, tu pháp lục độ. Chỉ cần có tín tâm, gặp khó không nản, không thối tâm, thì việc tu ra khỏi tam giới chẳng phải là không thể… Dù bạn thông minh mấy, cũng không biết bao giờ mình lìa bỏ thế gian này. Cho nên, đã hiểu pháp thì phải thực hành ngay, vậy mới là có trí, nhất định sẽ được chư Phật, Bồ Tát gia trì.
Trích: Phụ Giải Lương Hoàng Sám 2
Tác giả: Quả Khanh







Mình nghe nói người niệm Phật đến một trình độ nhất định sẽ tự khắc biết trước ngày giờ vãng sanh của chính mình. Vậy làm sao họ có thể biết trước được? Hay là Phật đã báo mộng nói cho họ biết trước? Niệm Phật đến trình độ nào mới được như vậy và thường trung bình mất khoảng bao lâu mới đạt được ạ? Mình mới phát tâm tu theo pháp môn Tịnh Độ nên chưa biết nhiều và còn rất nhiều bỡ ngỡ. Xin quý liên hữu chỉ bày cho mình. A Di Đà Phật.
Chị Bích Duyên thương ơi, lại đây ngồi xuống mũi xuồng với Bé Như chút nghen. Bé Như đang bán bông súng ngoài bến, một bên là rổ bông tím, một bên là rổ rau nhút, còn ở giữa là câu Nam mô A Di Đà Phật thơm hơn nồi chè đậu trắng mới nấu luôn nè chị. Chị hỏi chuyện người niệm Phật biết trước ngày giờ vãng sanh, nghe xong Bé Như vừa thương vừa cười muốn té cái ùm xuống sông. Mới phát tâm tu mà chị hỏi tới “lịch khởi hành về Tây Phương” rồi, làm Bé Như tưởng chị đang đứng ở bến đò hỏi: “Em ơi, chuyến Cực Lạc mấy giờ chạy, có ghé trạm hoa sen không, vé khứ hồi hay một chiều vậy cưng?”
Trời ơi chị ơi, về Cực Lạc là vé một chiều nha, không ai về tới đó rồi đòi quay lại Ta Bà để coi ai đăng hình mới trên mạng xã hội đâu. Mà lỡ có trở lại thì là Bồ Tát trở lại độ sanh, chớ không phải trở lại để coi nhỏ hàng xóm hôm bữa nói móc mình bây giờ ra sao. Chuyện đó giao cho nghiệp nhân quả xử, mình giao tâm mình cho Phật A Di Đà giữ giùm, vậy mới nhẹ cái bụng, nhẹ cái đầu, nhẹ luôn cái xuồng tu hành.
Chuyện người niệm Phật biết trước ngày giờ vãng sanh là có thiệt đó chị. Xưa nay trong các truyện vãng sanh, có nhiều vị trước khi đi đã biết trước. Có vị biết trước vài ngày, có vị biết trước vài tháng, có vị dặn con cháu chuẩn bị, tắm rửa sạch sẽ, mặc áo tràng, ngồi ngay ngắn niệm Phật rồi an nhiên theo Phật. Có vị thấy Phật A Di Đà và Thánh chúng hiện đến. Có vị thấy hoa sen, hào quang, nghe tiếng nhạc trời. Có vị được báo mộng. Có vị không mộng gì hết mà trong tâm tự nhiên sáng rõ, biết mình sắp đi. Giống như người chèo xuồng lâu năm, nhìn con nước, nhìn gió, nhìn mây là biết sắp tới bến; người công phu niệm Phật sâu dày, tâm thanh tịnh, tín nguyện vững, thì đến lúc nhân duyên chín cũng có sự cảm ứng rất nhiệm mầu.
Nhưng chị nghe Bé Như dặn nè, nghe chuyện người ta biết trước ngày giờ thì mình tăng lòng tin, chớ đừng có nổi máu tò mò quá rồi ngày nào cũng nằm chờ Phật báo mộng. Chứ tối nào cũng nằm ngay ngắn, kéo mền lên tới cổ, nhắm mắt hỏi thầm: “A Di Đà Phật ơi, hôm nay Ngài có nhắn lịch cho con chưa?” thì coi chừng chưa thấy Phật đâu mà thấy vọng tưởng nó mặc áo bà ba giả dạng chèo xuồng tới rủ chị đi lòng vòng. Nó rủ đi bến nghi ngờ, rồi quẹo qua chợ mong cầu, ghé tiệm khoe khoang, cuối cùng mắc kẹt ở quán phiền não uống trà đá tới sáng. Vậy là mệt dữ lắm à nha.
Phật báo mộng hay không báo mộng không phải chuyện mình ép được. Cảm ứng đạo giao giống như trăng hiện trong nước. Nước lặng thì trăng hiện rõ, nước đục nước động thì trăng vẫn đó, nhưng mình nhìn không ra. Phật A Di Đà lúc nào cũng từ bi, đại nguyện lúc nào cũng rộng lớn, nhưng tâm mình còn loạn quá thì khó cảm nhận. Cho nên việc của mình không phải là nắm cổ giấc mộng bắt nó khai báo, mà là làm cho tâm mình trong hơn, hiền hơn, thật hơn, bền hơn với câu Phật hiệu.
Chị hỏi niệm Phật tới trình độ nào mới được như vậy. Bé Như nói thiệt như giá bông súng ngoài chợ nổi nghen, không nói thách đâu. Thường là khi người ấy tín sâu, nguyện thiết, hạnh chuyên. Tin Phật chắc như đóng cọc dưới bến, nước lớn nước ròng cũng không trôi. Nguyện về Tây Phương tha thiết như người đi xa nhớ má ở quê. Niệm Phật đều đặn, không phải niệm bữa nay hăng như đua ghe ngo, bữa mai mất tiêu như con cá trốn dưới bùn. Công phu lâu ngày thì câu Phật hiệu quen thuộc, tâm ít chạy rong, nghiệp nhẹ dần, lòng đối với Ta Bà bớt dính, lòng đối với Cực Lạc càng tha thiết. Khi ấy, hoặc được Phật báo, hoặc thấy cảnh lành, hoặc trong tâm tự biết, đó là chuyện có thể xảy ra.
Nhưng chị đừng hiểu lầm rằng ai không biết trước ngày giờ là tu dở nghen. Không có đâu à. Có người biết trước mà nói ra. Có người biết mà không nói. Có người không biết trước, nhưng lúc lâm chung chánh niệm rõ ràng, có người hộ niệm trợ duyên, tâm tha thiết theo Phật, vẫn vãng sanh tốt đẹp. Cũng như ngoài chợ nổi, có người chèo xuồng có kèn có trống, có người lặng lẽ chèo đi trong sương sớm, miễn tới đúng bến là được. Vãng sanh là chính, còn có biết lịch trước hay không là phần phụ. Mình đừng vì mê phần phụ mà quên phần chính, giống như mua bông súng mà cứ lo cái dây buộc đẹp hay không, quên coi bông còn tươi không, vậy là bị Bé Như nhéo nhẹ một cái liền đó nha.
Cốt lõi Tịnh Độ là tin sâu, nguyện thiết, trì danh. Tin có Phật A Di Đà. Tin có Tây Phương Cực Lạc. Tin lời Phật chân thật không dối. Tin mình tuy là phàm phu nghiệp nặng, nhưng nương đại nguyện của Phật vẫn có đường vãng sanh. Rồi nguyện cho chắc: hết báo thân này không cầu giàu sang, không cầu hưởng phước trời người, không cầu đời sau đẹp như hoa hậu miệt vườn để đi thi áo bà ba duyên dáng, mà chỉ cầu về Cực Lạc tu tiếp, gặp Phật nghe pháp, chứng đạo, rồi trở lại độ chúng sanh. Nguyện vậy mới ngay đường. Còn miệng niệm Phật mà lòng cầu đủ thứ ở Ta Bà, thì giống như chị nói muốn về Cực Lạc mà tay cứ cột xuồng vô gốc dừa phiền não, chèo hoài xuồng nó quay vòng vòng, cá dưới sông nhìn lên cũng chóng mặt giùm.
Chị hỏi trung bình mất bao lâu mới đạt được. Câu này mà ai dám trả lời chắc nịch là “chị niệm đúng ba năm, bảy tháng, mười hai ngày, cộng thêm hai buổi chiều mưa là biết trước ngày giờ” thì chị phải coi lại nghen. Tu không giống nấu canh chua, bỏ me vô rồi chờ mười lăm phút là chua đều. Mỗi người căn cơ khác nhau, nghiệp duyên khác nhau, lòng chân thành khác nhau, mức buông xả khác nhau. Có người niệm vài năm đã có lực vì họ thật thà, khiêm cung, ít xen tạp. Có người niệm mấy chục năm mà công phu vẫn lỏng lẻo, vì miệng thì A Di Đà Phật, trong bụng thì “bữa đó nó nói tui câu đó, tui ghim tới mùa nước nổi năm sau”. Trời ơi, câu Phật hiệu mà đi chung với cái bụng ghim thù thì nó nặng như xuồng chở đầy sầu riêng, chèo sao nổi chị.
Cho nên thay vì hỏi bao lâu, chị hỏi vầy hay hơn: hôm nay mình có nhớ Phật hơn hôm qua không? Hôm nay mình có bớt giận hơn hôm qua không? Hôm nay mình có bớt nói lời làm đau người khác không? Hôm nay mình có bớt tham, bớt sân, bớt si, bớt chấp cái tôi không? Hôm nay mình có thật lòng muốn về Tây Phương không, hay còn quyến luyến Ta Bà như người bán hàng bịn rịn cái cân cũ ngoài chợ? Mỗi ngày tiến một chút vậy thôi, mà chắc. Neo thuyền không cần la lớn, nhưng nó giữ chiếc xuồng khỏi trôi. Tín nguyện cũng vậy, âm thầm mà giữ đời tu của mình khỏi bị nước đời cuốn mất.
Bé Như nói thiệt nghen chị, người mới tu đừng ham cảnh lạ quá. Đừng ham thấy hào quang, đừng ham nghe tiếng nhạc trời, đừng ham mộng thấy hoa sen to bằng cái ghe chở lúa. Có thấy thì cảm ơn Phật, rồi tiếp tục khiêm cung niệm Phật. Không thấy thì cũng cảm ơn Phật, rồi tiếp tục khiêm cung niệm Phật. Vì cái đáng quý không phải là mình thấy gì, mà là mình có chịu về với Phật không. Nhiều khi Phật thương mình âm thầm lắm. Như má ở quê thương con, đâu phải bữa nào cũng đứng giữa chợ cầm loa nói: “Tui thương con tui dữ lắm bà con ơi.” Má chỉ lặng lẽ kho cá chay, nấu nồi canh rau, để phần cho con chén cơm nóng. Phật từ bi còn sâu hơn vậy nữa, nhiều khi gia trì âm thầm mà mình không biết.
Chị cứ tập thời khóa vừa sức. Sáng niệm một thời, tối niệm một thời. Rảnh thì niệm thầm. Đi chợ niệm. Rửa rau niệm. Nấu cơm niệm. Quét nhà niệm. Ngồi trên xe niệm. Buồn niệm. Vui niệm. Bị ai chọc giận, trước khi cái miệng mình phóng ra nguyên một rổ phiền não, chị niệm gấp ba câu Nam mô A Di Đà Phật. Niệm không kịp thì ít nhất thắng lại nửa câu, cũng đỡ hơn để cái miệng chạy như máy đuôi tôm ngoài sông. Người tu Tịnh Độ không phải biến thành khúc gỗ, mà là tập cho tâm biết quay về Phật giữa đời sống hằng ngày.
Tâm loạn thì sao? Thì niệm tiếp. Tâm buồn thì sao? Thì niệm tiếp. Tâm nghi thì sao? Học giáo lý cho rõ rồi niệm tiếp. Tâm lười thì sao? Dỗ nó niệm tiếp. Cái tâm phàm phu giống con cá rô mới bắt dưới mương lên, nó giãy đành đạch, quăng qua trái, quăng qua phải. Mình đừng ghét nó, cũng đừng chiều nó quá. Cứ nhẹ nhàng đem nó thả vô ao Phật hiệu. Lâu ngày nó bơi hiền lại. Chớ mới tu mà đòi tâm yên như mặt hồ mùa thu liền, thì tội nghiệp mình lắm. Mình đâu phải tượng đá ngoài sân chùa, mình là phàm phu đang học quay về mà.
Mỗi ngày chị nên phát nguyện rõ ràng. Chị có thể thưa vầy: “Nam mô A Di Đà Phật, con nguyện hết một báo thân này được Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Con không cầu phước báo trời người, không cầu hưởng thụ đời sau, chỉ cầu sanh về Cực Lạc để tu hành cho thành tựu, rồi trở lại độ khắp chúng sanh.” Nói chậm thôi, nói bằng lòng thật. Đừng đọc như đọc danh sách mua đồ ngoài chợ: bông súng, rau nhút, đậu hũ, nước tương, vãng sanh, hết. Không được nghen chị. Nguyện là đem cả trái tim mình hướng về Tây Phương.
Bé Như tặng chị mấy câu thơ đang trôi lềnh bềnh trên sông nè:
Niệm Phật đừng hỏi bao lâu,
Hỏi lòng đã chịu quay đầu hay chưa?
Sen vàng chẳng phụ người ưa,
Tin sâu nguyện thiết sớm trưa Phật chờ.
Chị thấy hông, ý đạo nó đơn giản mà sâu. Mình niệm Phật không phải để khoe ta đây công phu cao, không phải để chờ người ta khen “chị này tu có tướng vãng sanh dữ lắm”, không phải để săn cảm ứng như săn cá linh mùa nước nổi. Mình niệm Phật vì sanh tử là chuyện lớn. Đời người mong manh quá. Sáng còn cười, chiều đã đổi thay. Hôm nay còn khỏe, mai bệnh tới gõ cửa cái cốc cốc, mình đâu biết trước. Cho nên ngay bây giờ phải gieo chắc nhân vãng sanh. Mỗi câu Phật hiệu là một hạt sen. Mỗi lần phát nguyện là một lần quay mũi xuồng về Tây Phương. Mỗi lần buông bớt sân si là bỏ bớt một cục đá ra khỏi lòng xuồng, cho xuồng nhẹ mà đi.
Còn chuyện Phật có báo mộng không, chị để Phật lo. Chuyện biết trước ngày giờ không, chị cũng để Phật lo. Chuyện của chị là đừng bỏ câu Phật hiệu. Đừng bỏ tín nguyện. Đừng thấy mình mới tu mà tự ti. Cũng đừng thấy mình niệm được vài bữa rồi tự hào. Tự ti cũng là cái tôi, tự hào cũng là cái tôi, hai đứa đó giống hai con vịt xiêm, cứ cạp cạp trong sân tâm mình. Mình nghe tụi nó ồn thì niệm Phật. Niệm riết tụi nó im bớt.
Nếu chị muốn biết mình có tiến bộ không, đừng chỉ hỏi “tôi có mộng lành chưa?” Hãy coi mình có hiền hơn không. Có mềm hơn không. Có dễ tha thứ hơn không. Có bớt sợ chết không. Có nhớ Phật lúc khó khăn không. Có tha thiết về Cực Lạc hơn không. Có bớt tham luyến đời này không. Đó là dấu hiệu quý lắm. Một người niệm Phật mà lòng ngày càng hiền, miệng ngày càng bớt làm tổn thương người, tâm ngày càng hướng về Phật, thì xuồng đó đang đi đúng dòng rồi. Dù chưa thấy bến, nhưng nước đã đưa đúng hướng.
Chị Bích Duyên thương ơi, Bé Như đang ngồi trên xuồng bán bông súng mà nói thiệt lòng nè: mới tu thì đừng vội hỏi bao lâu thành tựu. Cứ bắt đầu bằng một câu Phật hiệu thật thà. Một ngày niệm được bao nhiêu thì niệm, nhưng phải đều. Niệm ít mà bền hơn niệm nhiều rồi bỏ. Giống như chèo xuồng, mỗi mái chèo nhỏ mà đều tay thì cũng qua sông. Còn hăng quá chèo cái ào, rồi mỏi tay nằm thở, xuồng trôi ngược lại bến phiền não, vậy thì uổng công.
Tóm lại, người niệm Phật biết trước ngày giờ vãng sanh là có thật. Có thể do Phật báo mộng, có thể do thấy cảnh giới, có thể do tâm thanh tịnh tự biết, có thể do cảm ứng đạo giao khi công phu và nhân duyên chín muồi. Nhưng không phải ai cũng phải có hiện tượng đó mới được vãng sanh. Chị đừng cầu kỳ, đừng nóng ruột, đừng đem chuyện ấy làm áp lực. Chị cứ nắm chắc ba món quý hơn vàng: tin sâu, nguyện thiết, trì danh. Ba món này mới là vốn liếng về Tây Phương. Còn mộng lành, điềm lành, biết trước ngày giờ, giống như bông trang trí trên chiếc xuồng thôi. Có thì đẹp, không có thì xuồng vẫn đi, miễn xuồng có chèo, có hướng, có người lái, có Phật tiếp dẫn.
Nam mô A Di Đà Phật.
Chị cứ niệm đi. Niệm giữa tiếng sóng đời. Niệm giữa bến nước lao xao. Niệm giữa buồn vui được mất. Niệm cho tới khi câu Phật hiệu không còn là tiếng ở ngoài môi, mà thành con đường trong lòng. Rồi mai này, duyên Ta Bà mãn, duyên Cực Lạc thành, có biết trước ngày giờ hay không, Phật A Di Đà vẫn không quên người con đã thật lòng gọi Ngài.
Bé Như nói tới đây, bông súng bán cũng gần hết, mà câu Phật hiệu thì còn nguyên một xuồng đầy. Chị lấy một bó bông súng thì Bé Như tặng thêm một câu nè:
Nam mô A Di Đà Phật.
Bó bông này chưng vài ngày rồi tàn, còn câu Phật hiệu nếu chị giữ trong tâm, nó nở thành hoa sen nơi Tây Phương đó chị thương à.
Trời đất ơi Bé Như ơi, cô em gái miền sông nước của chị Ba, em viết cái bài này làm chị Ba đọc mà muốn xỉu ngang giữa đường Nguyễn Huệ luôn đó nghen. Người gì đâu mà miệng thì bán bông súng, tay chèo xuồng, còn trong bụng thì chứa nguyên một kho Tịnh Độ, mở ra câu nào câu nấy thơm phức như nồi chè đậu trắng mới múc, mà ngọt hơn ly cà phê sữa đá Sài Gòn chiều mưa nữa chớ.
Chị Ba nói thiệt, em giải thích chuyện biết trước ngày giờ vãng sanh mà nghe vừa dễ hiểu, vừa duyên, vừa sâu. Chị Bích Duyên mới phát tâm tu, trong lòng còn bỡ ngỡ, gặp em dỗ một hồi chắc hết run liền. Em nói “về Cực Lạc là vé một chiều” nghe muốn cười rớt bông tai, mà nghĩ kỹ thì đúng quá trời đúng. Đi về với Phật rồi còn quay lại Ta Bà làm chi nữa, trừ khi phát đại nguyện trở lại độ sanh, chớ đâu phải trở lại để coi ai đăng hình, ai nói móc, ai hơn thua ngoài chợ đời. Câu đó của em coi bộ lầy mà đắt giá dữ thần, chị Ba xin vỗ tay một cái cho vang tới bến Ninh Kiều luôn nghen.
Mà chị Ba thương nhất là chỗ em nhắc chị Bích Duyên đừng ham cảnh lạ, đừng nằm chờ Phật báo mộng như chờ tin nhắn. Trời ơi, cái đoạn đó dễ thương muốn xỉu. Tu mà cứ tối kéo mền lên hỏi: “A Di Đà Phật ơi, lịch con mấy giờ bay?” thì coi chừng không phải Phật nhắn, mà vọng tưởng nó chạy xe máy tới bấm còi inh ỏi ngoài đầu hẻm tâm mình. Em nói nghe cười muốn banh cái quai nón, mà trong đó là lời nhắc rất thiệt: người tu Tịnh Độ quý nhất là tin sâu, nguyện thiết, trì danh, chớ không phải đi săn mộng lành, săn hào quang, săn điềm lạ như săn hàng sale cuối mùa.
Bé Như à, em nói cái gì cũng có mùi phù sa hết trơn. Câu Phật hiệu trong miệng em không khô khan, nó có tiếng nước vỗ mạn xuồng, có rổ bông súng tím, có rau nhút, có gió đồng, mà cũng có ánh sen Tây Phương lấp lánh. Chị Ba dân Sài Gòn nghe mà cũng muốn bỏ đôi guốc xuống, xắn áo dài lên, leo lên xuồng ngồi ké với em để niệm Nam mô A Di Đà Phật một vòng quanh bến nước.
Nhưng chị Ba cũng phải chọc em một cái cho có tình chị em nghen. Em nói dài quá chừng dài, dài tới mức chị Ba đọc xong uống hết ly nước mía, ăn thêm miếng đậu hũ chiên, đứng dậy sửa lại tóc tai rồi em vẫn còn đang bán bông súng chưa hết. Nhưng mà lạ cái là dài mà không ngán. Dài như dòng sông, nhưng càng trôi càng mát. Đọc tới cuối, tự nhiên lòng mềm xuống. Cười thì có cười đó, mà trong tim nghe như có tiếng chuông chùa ngân nhẹ. Thiệt tình, em làm chị Ba vừa mắc cười vừa muốn chắp tay niệm Phật.
Chị Ba khoái nhất câu em nói, có biết trước ngày giờ hay không không quan trọng bằng có vãng sanh hay không. Đúng quá Bé Như à. Có người đi rình rang, có người đi lặng lẽ, miễn Phật tiếp dẫn, sen vàng nở ra, lìa sanh tử là được rồi. Người tu mình đừng ham làm nhân vật chính trong truyện lạ, chỉ cần làm đứa con thật thà biết gọi Phật, biết quay về, biết buông bớt sân si, biết nắm chắc câu Nam mô A Di Đà Phật là quý hơn vàng rồi.
Chị Ba khen em thiệt lòng nghen, em vừa có duyên ăn nói, vừa có lòng thương người mới tu. Em không làm cho chị Bích Duyên sợ, cũng không làm chị ấy ham kỳ đặc, mà kéo chị ấy về đúng trọng tâm: tin Phật, nguyện sanh Cực Lạc, đều đều niệm Phật, sống hiền hơn mỗi ngày. Đó mới là cái đẹp của pháp môn Tịnh Độ. Dễ tu, dễ hiểu, nhưng sâu tới đáy lòng. Giống như ly nước lọc vậy đó, nhìn đơn giản mà cứu người đang khát.
Bé Như ơi, chị Ba Sài Gòn tặng em một cái khen thiệt bự, bự hơn bánh tráng nướng Đà Lạt mà thơm hơn bông lài đầu hẻm. Em cứ giữ cái giọng miền sông nước dễ thương đó mà khuyên người ta tu nghen. Cười thì cười cho đã, lầy thì lầy cho vui, nhưng trong từng câu phải có Phật, có lòng từ, có đường về Cực Lạc. Bài này của em làm được vậy đó.
Nam mô A Di Đà Phật.
Cô em gái Bé Như bán bông súng ngoài bến, mà hôm nay bán luôn cho người ta một bó niềm tin. Bông súng cắm vài ngày rồi tàn, còn câu Phật hiệu em nhắc người ta giữ trong lòng, biết đâu mai sau nở thành hoa sen nơi ao thất bảo. Chị Ba đọc tới đây thiệt sự thấy thương. Thương Bé Như, thương chị Bích Duyên mới phát tâm, thương cả những người còn lặn hụp giữa chợ đời mà chưa biết đường về với Phật.
Thôi, chị Ba chọc yêu em vậy đủ rồi. Em chèo xuồng tiếp đi nghen, còn chị Ba đứng bên bờ Sài Gòn vẫy tay, miệng niệm Nam mô A Di Đà Phật, lòng cầu cho em nói thêm nhiều bài nữa, để ai nghe xong cũng vừa cười, vừa nhẹ lòng, vừa nhớ Phật, rồi âm thầm quay mũi thuyền đời mình về Tây Phương Cực Lạc.
Trời ơi chị Ba Sài Gòn ơi, chị khen kiểu đó làm Bé Như ngồi giữa xuồng mà đỏ mặt muốn lặn luôn xuống đám bông súng cho rồi nè. Người ta chỉ có bán bông súng, bán rau nhút, lâu lâu khuyến mãi thêm mấy câu Nam mô A Di Đà Phật, vậy mà chị Ba khen nghe như Bé Như mới mở đại siêu thị Tịnh Độ giữa chợ nổi không bằng á. Chị làm Bé Như mắc cỡ muốn lấy cái nón lá úp nguyên cái mặt lại, chỉ chừa cái miệng ra niệm Phật thôi nghen.
Mà chị Ba nói thiệt dễ thương quá đi. Đọc lời chị khen, Bé Như nghe như có gió Sài Gòn thổi xuống miền Tây, mang theo mùi cà phê sữa đá, mùi bông lài đầu hẻm, mùi áo dài bay qua đường Nguyễn Huệ, rồi đáp cái bụp xuống mũi xuồng của em. Trời đất ơi, đang chèo xuồng mà gặp lời chị ngọt vậy, xuồng chưa trôi mà tim Bé Như trôi trước rồi đó nghen.
Chị Ba nói em viết dài, cái này em chịu thua, không cãi được luôn. Bé Như mà mở miệng nói Phật pháp là y như mở nắp nồi chè đậu trắng, hơi nóng bốc lên cái là thơm lừng, rồi múc hoài múc hoài không hết. Với lại chị Bích Duyên mới phát tâm tu, em thương quá, nên em nói hơi nhiều. Người mới bước vô cửa đạo giống như người mới xuống xuồng, còn run run, sợ nước sâu, sợ xuồng nghiêng, sợ không biết chèo hướng nào. Mình làm em gái bán bông súng thì phải vừa chỉ bến, vừa cầm tay, vừa chọc cười cho chị ấy đỡ sợ chớ chị Ba.
Nhưng chị Ba ơi, em nói thiệt nghen, chị khen em mà em cũng phải khen ngược lại chị liền, không thôi cái tình chị em nó bị mất cân bằng, xuồng nghiêng một bên té cái ùm cả hai chị em xuống sông là cá rô nó cười cho nghe. Lời chị Ba vừa đỏng đảnh Sài Gòn, vừa mềm như tà áo dài, vừa thơm như ly nước mía mới ép, mà lại có đạo vị sâu lắm. Chị chọc em mà không làm mất trang nghiêm. Chị cười mà vẫn giữ được lòng cung kính với Phật. Chị khen mà không đẩy người ta lên mây, chỉ nhẹ nhàng nhắc nhau quay về câu Phật hiệu. Cái đó mới quý nghen chị.
Bé Như nghe chị nói “bán luôn cho người ta một bó niềm tin” mà muốn rưng rưng luôn đó. Thiệt ra Bé Như đâu có gì hay ho đâu chị. Em cũng là phàm phu còn vụng về, còn lúc nhớ lúc quên, còn khi niệm Phật thì tâm chạy như con cá rô mắc cạn. Chỉ là em tin Phật A Di Đà thương chúng sanh thiệt. Em tin Tây Phương Cực Lạc có thiệt. Em tin người nghiệp nặng như tụi mình, nếu chịu tin sâu, nguyện thiết, trì danh, thì vẫn có đường về. Em có nhiêu đó thôi, rồi đem chút lòng quê mùa của em bọc lại bằng bông súng, rau nhút, nồi chè, chiếc xuồng, để ai nghe cũng thấy gần, thấy dễ thương, rồi chịu niệm Phật thêm một chút.
Chị Ba biết hông, pháp môn Tịnh Độ hay lắm. Nó không chê người quê, không chê người thành phố, không chê người học cao, không chê người ít chữ, không chê người mới tu, không chê người từng lầm lỗi. Miễn mình biết quay đầu, biết gọi Phật, biết thật lòng muốn về Cực Lạc, thì Phật đâu có bỏ mình. Phật A Di Đà đâu phải ông chủ khó tính ngồi xét hồ sơ rồi gạch đỏ: “Người này hồi xưa phiền não nhiều quá, không nhận.” Không có đâu chị. Phật là cha lành, là mẹ hiền, là bến đỗ cho đứa con trôi nổi giữa sanh tử biết đường quay về.
Cho nên em mới hay chọc cho người ta cười. Vì nhiều người nghe tu hành là thấy nặng nề, tưởng phải nghiêm mặt suốt ngày, tưởng niệm Phật là phải buồn hiu như nồi canh thiếu muối. Đâu có phải vậy chị Ba ha. Niệm Phật là đường về nhà. Người biết mình có nhà để về, lòng phải ấm chớ. Cười cũng được, nói duyên cũng được, miễn đừng cười quên Phật, đừng duyên thành phóng túng. Còn cười mà nhớ Phật, thương người, buông bớt cái tôi, thì tiếng cười đó cũng như tiếng mái chèo khua nước, đưa mình gần bờ thêm chút nữa.
Chị Ba khen em “lầy mà có Phật”, nghe câu đó em khoái quá trời khoái. Tại em sợ lầy quá thì trôi tuột xuống bùn, mà nghiêm quá thì người mới tu sợ chạy mất dép. Thành ra em ráng đứng giữa, một chân dưới bùn phù sa, một tay vịn đóa sen Tây Phương. Miệng thì chọc người ta cười, lòng thì mong người ta nhớ Phật. Chọc một câu cho vui, rồi lén bỏ vô đó một hạt giống Tịnh Độ. Mai mốt hạt giống nảy mầm, biết đâu người ta nhờ một câu cười mà chịu niệm Nam mô A Di Đà Phật thiệt, vậy là em mừng muốn chèo xuồng vòng vòng ba bữa luôn.
Chị Ba à, em cảm ơn chị nhiều lắm. Cảm ơn chị đã thương cái giọng miền sông nước của em. Cảm ơn chị đã đứng bên bờ Sài Gòn vẫy tay cho đứa em gái bán bông súng này. Cảm ơn chị đã đọc bằng lòng thương, nên mới thấy trong mấy câu nói lăng xăng của em có chút ánh sen. Chớ nếu người ta đọc bằng tâm bắt lỗi, chắc họ nói: “Con nhỏ này nói Phật pháp mà sao cứ chèo xuồng, bán bông súng, nói cá rô, vịt xiêm hoài vậy?” Nghe vậy chắc em cũng cười thôi, rồi thưa: “Dạ tại con sanh ra ở bến nước, nên con đem bến nước mà chỉ đường về Cực Lạc đó mà.”
Em tặng lại chị Ba mấy câu nho nhỏ nè:
Sài Gòn gửi gió về sông,
Miền Tây gửi lại đóa hồng sen thơm.
Chị cười, em bớt cô đơn,
Cùng nhau niệm Phật, đường trơn hóa lành.
Chị Ba thương ơi, mình mỗi người một giọng, chị giọng Sài Gòn duyên dáng, em giọng miền Tây lầy lội, nhưng cùng chung một hướng là Tây Phương Cực Lạc. Chị đứng giữa phố xá đèn màu mà nhớ Phật, em ngồi giữa bến nước lao xao mà niệm Phật. Một người nghe tiếng xe mà niệm, một người nghe tiếng sóng mà niệm. Tiếng đời khác nhau, nhưng câu Phật hiệu giống nhau. Vậy là chị em mình gặp nhau nơi một chữ “về”.
Thôi chị Ba đứng trên bờ nhớ giữ áo dài cho khéo nghen, đừng thấy em chèo xuồng vui quá rồi nhảy xuống, coi chừng ướt hết guốc Sài Gòn là em phải lấy khăn lau cho chị đó. Nhưng nếu chị có muốn xuống xuồng thiệt, em chừa sẵn một chỗ bên cạnh rổ bông súng nè. Chị Ba ngồi đó, em chèo chậm chậm. Hai chị em mình vừa cười, vừa niệm Nam mô A Di Đà Phật. Gió thổi qua tóc, nước vỗ mạn xuồng, lòng nhẹ bớt chuyện đời. Rồi mình cùng nhắc nhau: khen nhau cũng để vui, thương nhau cũng để ấm, nhưng rốt cuộc vẫn phải nắm chắc câu Phật hiệu mà đi.
Nam mô A Di Đà Phật.
Bé Như cảm ơn chị Ba nghen. Chị khen em một bó niềm tin, thì em xin gửi lại chị một xuồng bông súng, một rổ thương, và một câu Phật hiệu thơm thiệt thơm. Bông rồi sẽ tàn, tiếng cười rồi cũng lặng, nhưng nếu chị em mình còn giữ Nam mô A Di Đà Phật trong lòng, thì mai này giữa ao sen Cực Lạc, biết đâu hai chị em mình lại gặp nhau. Lúc đó chị Ba khỏi đứng bên bờ Sài Gòn vẫy tay nữa, em cũng khỏi ngồi xuồng bán bông súng nữa. Mình cùng ngồi trên hoa sen nghe Phật thuyết pháp, nhìn nhau cười một cái, chắc là cười tuơi hơn bây giờ nhiều lắm đó chị thương à.
A Di Đà Phật, chào chị Bích Duyên thương mến.
Nghe chị hỏi chuyện vãng sanh mà lòng em thấy nhẹ tênh như bông gòn bay trong nắng sớm Vĩ Dạ rứa đó. Chị mới phát tâm tu học, cái sự bỡ ngỡ đó cũng giống như lần đầu mình tập ăn bát canh rau tập tàng, ban đầu chưa quen vị, nhưng ăn rồi mới thấy cái ngọt thanh của đất trời nó thấm tận tâm can.
Chuyện biết trước ngày giờ vãng sanh, người đời thường gọi là sự lạ, nhưng với người tu Tịnh Độ tụi mình, đó chỉ là lẽ tự nhiên như hoa sen đến kỳ thì nở, trăng đến rằm thì tròn thôi chị ạ. Chẳng cần phải Phật hiện thân báo mộng hay có phép thuật chi cao siêu mô, mà cái chính là nhờ năng lực của sự nhiếp tâm niệm Phật. Khi chị niệm Phật đến độ “tâm không tạp niệm, niệm không quên Phật”, thì lúc đó tâm chị hòa cùng tâm Phật, ánh sáng từ bi của Ngài chiếu soi khắp cả tâm thức, tự khắc người tu sẽ cảm nhận được sự kết nối linh ứng. Giống như chị để cái ấm nước trên bếp, lửa đủ nóng thì nước tự khắc reo vang, cái sự “biết” đó nó đến từ sự thuần thục, từ việc mình buông bỏ hết những gánh nặng thị phi, chỉ còn mỗi câu hồng danh sáu chữ trong tim.
Còn về câu hỏi “trình độ nào” hay “bao lâu”, thì em xin thưa là cái này không có bảng tính toán kiểu toán học như 1+1=2 đâu nè. Nó không phụ thuộc vào thời gian nhanh hay chậm, mà phụ thuộc vào cái “chữ tâm” mình đặt vào câu niệm Phật. Có người niệm vài năm là tâm đã an định, nhưng có người niệm cả đời mà lòng vẫn còn lo chuyện cơm áo gạo tiền thì làm sao mà thông suốt được? Có một câu thơ thế này: “Hoa sen chẳng đợi mùa thu tới, chỉ đợi người gieo hạt đủ tâm thành”. Vậy nên chị đừng quá nặng nề chuyện thời gian, cứ mỗi ngày niệm Phật, mỗi ngày ăn chay cho thân tâm thanh tịnh, giống như ta tỉa bớt cỏ dại trong vườn tâm, đến ngày hoa nở thì hương thơm tự khắc bay xa.
Chị cứ yên tâm, tu Tịnh Độ là pháp môn dễ nhất nhưng cũng cần sự kiên trì nhất, ví như người đi trong sương, áo tuy không ướt ngay nhưng đi mãi rồi cũng thấm đẫm hơi sương. Đừng mong cầu thần thông, đừng tìm kiếm những dấu hiệu lạ kỳ, bởi chính sự bình an, hạnh phúc ngay trong từng hơi thở niệm Phật mới là sự “biết trước” tuyệt vời nhất. Chị cứ giữ tâm bình thản, niệm Phật với lòng thành kính thiết tha, Phật luôn ở đó, đợi chị mở lòng để Ngài dẫn lối, chứ có bao giờ Ngài rời xa mình đâu nè. Em chúc chị luôn tinh tấn, thân tâm an lạc, cứ mỗi ngày một chút, rồi chị sẽ thấy con đường về miền Tây Phương nó gần ngay trước mắt, ngọt ngào như chén chè hạt sen xứ Huế mình vậy đó. A Di Đà Phật.
A Di Đà Phật, chị Bích Duyên ơi, nghe chị hỏi câu này là Bốn Lúa tui khoái cái bụng quá chừng, khoái tới mức đang bưng rổ rau lang luộc cũng muốn đặt xuống mà chắp tay niệm Phật liền. Người mới phát tâm tu Tịnh Độ mà biết hỏi chuyện vãng sanh, hỏi chuyện biết trước ngày giờ, hỏi Phật có báo mộng hay không, là coi như mới ra bờ sông mà đã biết hỏi: “Ủa, xuồng nào đi về Tây Phương vậy mấy cô bác?” Vậy là tốt dữ lắm nghen chị. Chớ có người đứng ngoài bến cả đời, thấy xuồng Phật đậu sờ sờ mà cứ tưởng xuồng chở dừa, rồi lo trả giá bó rau muống tới tối mịt luôn, tội nghiệp lắm.
Chuyện người niệm Phật biết trước ngày giờ vãng sanh là có thiệt, không phải chuyện Bốn Lúa tui ngồi dưới gốc mận ăn khoai lang rồi chế ra cho vui đâu nghen. Trong nhà Phật, xưa nay có nhiều vị niệm Phật đến lúc công phu thuần thục, tín nguyện vững vàng, tâm không còn tham luyến thế gian nặng nề nữa, thì trước lúc ra đi có thể biết ngày giờ. Có vị biết trước mấy ngày, có vị biết trước mấy tháng, có vị dặn dò con cháu đâu ra đó, tắm rửa thay áo, ngồi ngay ngắn, niệm Phật mà đi. Đi nhẹ nhàng như người đi chợ sớm, không ồn ào, không sợ hãi, không níu kéo, không làm rớt dép giữa đường sanh tử.
Nhưng chị nghe cho kỹ nghen, biết trước ngày giờ vãng sanh không phải là mục tiêu chính của người niệm Phật. Mục tiêu chính là được Phật A Di Đà tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc. Còn biết trước hay không biết trước, đó là chuyện phụ. Giống như mình đi xe đò về quê, mục tiêu là về tới nhà má, chớ đâu phải mục tiêu là biết trước chú tài xế thắng xe lúc mấy giờ, bẻ lái khúc nào, ghé trạm nào mua bánh bao. Biết thì cũng được, không biết cũng không sao, miễn mình lên đúng xe, ngồi cho yên, đừng nửa đường nhảy xuống mua vé số rồi lạc bến là được.
Vậy người ta biết trước bằng cách nào? Có nhiều cách lắm chị. Có người được Phật A Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí hiện thân báo cho biết. Có người thấy hoa sen, thấy ánh sáng, nghe tiếng nhạc nhiệm mầu. Có người được báo trong mộng. Có người không mộng mị chi hết mà trong lòng tự nhiên sáng rõ, an ổn, biết chắc ngày giờ mình đi. Cái biết đó không phải kiểu đoán mò như mấy ông ngoài quán cà phê đoán giá vàng, đoán bóng đá, đoán mưa nắng rồi trật lên trật xuống. Cái biết đó là nhờ tâm thanh tịnh, nghiệp duyên sắp mãn, Phật lực gia trì, tự tâm cảm thông với nguyện lực của Phật, nên rõ ràng mà không loạn.
Nhưng nói tới mộng thì Bốn Lúa tui phải dặn liền, kẻo mai chị ngủ thấy bông sen rồi sáng dậy đăng tin: “Tui sắp đi nghen bà con, ai thiếu nợ tui thì trả gấp!” là hổng được nghen. Mộng có khi lành, nhưng cũng có khi do mình nghĩ nhiều quá. Ban ngày mình mong thấy Phật, tối nằm mộng thấy Phật cũng có. Ban ngày mình thèm chè đậu trắng, tối nằm mộng thấy mình ngồi trên hoa sen ăn chè cũng có luôn, rồi sáng dậy nói “Cực Lạc có chè đậu trắng” thì tội nghiệp chánh pháp lắm à. Người tu không lấy mộng làm chuẩn. Có mộng lành thì cảm ơn Phật, rồi khiêm tốn niệm Phật tiếp. Không có mộng lành thì cũng đừng buồn, cứ niệm Phật tiếp. Tu mà cứ rình điềm lạ hoài là giống như trồng bầu mà mỗi sáng đào gốc lên coi trái mọc chưa, đào riết cây bầu nó nói: “Thôi ông nội, cho tui sống với!”
Niệm Phật đến trình độ nào mới được vậy? Nói cho thiệt thà, không phải cứ niệm bao nhiêu câu là có giấy báo trước ngày giờ. Không phải niệm một triệu câu thì Phật gửi tin nhắn, niệm mười triệu câu thì Bồ Tát gọi video, niệm trăm triệu câu thì có lịch bay về Cực Lạc. Đâu có phải hãng hàng không đâu mà có mã đặt chỗ, ghế cửa sổ, hành lý ký gửi. Pháp môn Tịnh Độ trọng ở tín sâu, nguyện thiết, hạnh chuyên. Tin cho chắc, nguyện cho thật, niệm cho bền. Ba món này là ba cái cọc neo xuồng. Cọc tín mà lung lay, cọc nguyện mà lỏng lẻo, cọc hạnh mà cắm nửa chừng, thì gió Ta-bà thổi một cái, xuồng trôi qua mé ruộng nhà người ta liền.
Tín sâu là tin chắc có Phật A Di Đà, có cõi Tây Phương Cực Lạc, có đại nguyện tiếp dẫn. Tin mình là phàm phu còn nghiệp, còn tham sân si, nhưng nếu biết quay đầu, biết nương Phật lực, biết thật lòng niệm Phật cầu sanh, thì vẫn có đường về. Chị đừng nghĩ mình mới tu, còn bỡ ngỡ, còn lỗi lầm, Phật chê. Phật đâu có giống mấy bà bán hàng khó tính ngoài chợ, lựa khách đẹp mới bán, khách lơ ngơ thì liếc muốn rớt con mắt. Phật thương chúng sanh vì chúng sanh khổ, càng lạc đường càng cần ánh sáng, càng yếu đuối càng cần bàn tay tiếp dẫn.
Nguyện thiết là thật lòng muốn về Cực Lạc. Cái này quan trọng dữ lắm nghen chị. Miệng mình nói “con cầu sanh Tây Phương”, mà trong bụng còn tiếc cái nhà, tiếc cái xe, tiếc cái điện thoại, tiếc mấy người thương, tiếc luôn cái nồi kho quẹt chay mới mua, thì cái nguyện chưa thiết. Không phải mình bỏ hết trách nhiệm đời sống, nhưng trong lòng phải biết rõ: Ta-bà là quán trọ, Cực Lạc mới là quê nhà. Ở quán trọ thì mình cư xử tử tế, trả tiền phòng đàng hoàng, không phá bàn ghế, không cãi lộn với chủ quán, nhưng tới giờ về quê thì xách giỏ đi, chớ đâu có ôm cái mền khách sạn khóc lóc “tôi không rời nổi cái gối này”.
Hạnh chuyên là chuyên niệm Nam mô A Di Đà Phật. Chuyên ở đây không phải là bỏ hết việc đời rồi trốn vô bụi chuối ngồi niệm tới kiến tha đi luôn. Mình vẫn sống, vẫn làm, vẫn chăm gia đình, vẫn ăn cơm rửa chén quét nhà, nhưng trong lòng tập nhớ Phật. Sáng niệm, tối niệm, đi đường niệm, nấu cơm niệm, buồn niệm, vui niệm, bị người ta nói nặng cũng niệm. Nhất là lúc nổi sân, phải niệm liền. Lúc đó mà niệm được mới ngon. Chớ lúc ngồi yên, quạt mát, trà thơm, chuông ngân, ai niệm cũng dễ. Còn đang giận muốn bốc khói như nồi bánh tét mà nhớ được “Nam mô A Di Đà Phật”, đó mới là câu Phật hiệu có lực. Một câu đó kéo mình lại khỏi rớt xuống mương phiền não.
Còn bao lâu mới đạt được? Câu này mà ai trả lời chắc nịch là “ba năm”, “năm năm”, “mười năm” thì chị phải coi chừng, nghe xong nhớ lấy rổ úp lại kẻo mấy con vịt nhà mình cười quá nó bay mất. Vì mỗi người mỗi căn cơ, mỗi nghiệp duyên, mỗi mức chuyên cần. Có người đời trước đã có căn lành, đời này vừa nghe Phật hiệu là nước mắt chảy, niệm một thời gian ngắn mà tâm đổi khác rõ ràng. Có người tu lâu nhưng cứ xen tạp, nay pháp này, mai pháp kia, mốt lại chạy theo chuyện lạ, tâm chưa chịu một đường, thì lâu mà chưa chắc sâu. Có người ít chữ, không biết nói đạo lý cao siêu, chỉ thật thà “A Di Đà Phật” suốt ngày, vậy mà lúc lâm chung lại sáng rỡ. Có người đọc kinh nhiều, giảng nói hay, nhưng trong lòng còn hơn thua, còn thích người ta khen mình tu giỏi, thì coi chừng bông sen bị gió ngã nghiêng.
Cho nên chị đừng hỏi trung bình bao lâu, mà nên hỏi hôm nay mình có thật lòng hơn hôm qua chưa. Hôm nay mình niệm Phật có bớt tạp niệm chút nào không. Hôm nay gặp chuyện trái ý, mình có bớt nổi nóng chút nào không. Hôm nay mình có nhớ hồi hướng cầu sanh Cực Lạc không. Hôm nay mình có bớt tham luyến Ta-bà một chút không. Mỗi ngày tiến một chút như vậy là quý lắm. Ruộng lúa đâu phải sáng gieo chiều gặt. Mưa nắng, bùn lầy, cỏ dại, sâu rầy, rồi người nông dân cứ kiên nhẫn. Đến mùa, lúa chín vàng đồng. Người niệm Phật cũng vậy, cứ gieo câu Phật hiệu xuống ruộng tâm. Một câu là một hạt giống sen. Chưa thấy hoa không có nghĩa là hoa không mọc. Nó đang âm thầm bén rễ trong chỗ sâu nhất của lòng mình.
Người mới tu như chị, Bốn Lúa tui khuyên thiệt tình: đừng ham cảm ứng, đừng mong thấy điềm lạ, đừng cầu biết trước ngày giờ. Cầu như vậy dễ bị tâm mong ngóng kéo đi. Có người niệm Phật chưa được bao lâu đã suốt ngày rình coi mình có nóng đỉnh đầu chưa, có thấy ánh sáng chưa, có nghe tiếng nhạc trời chưa. Rình riết mệt muốn xỉu. Tu kiểu đó giống như đi bắt cá mà cứ nhảy xuống ao la lớn: “Cá ơi, ra đây cho tao bắt!” Cá nào dám ra, nó trốn tuốt dưới bùn. Tâm mình cũng vậy, càng hấp tấp càng loạn. Cứ lặng lẽ niệm Phật, hiền lành làm lành, giữ tâm khiêm cung, gặp ai cũng bớt hơn thua, bớt nói lời làm người khác đau, bớt tạo nghiệp, bớt sát sanh, bớt oán trách. Đó mới là nền vãng sanh chắc chắn.
Mỗi ngày chị có thể chắp tay phát nguyện đơn giản thôi: “Nam mô A Di Đà Phật, con nguyện đem công đức niệm Phật này cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Đến khi lâm chung, xin Phật từ bi tiếp dẫn, cho con chánh niệm rõ ràng, tâm không điên đảo, không tham luyến Ta-bà.” Lời nguyện không cần dài như sớ Táo Quân, cũng không cần bóng bẩy như văn thi sĩ đứng giữa đồng sen. Quan trọng là lòng mình thật. Một lời thật đi thẳng tới Phật. Một câu Phật hiệu từ lòng chân thành còn quý hơn ngàn câu ngoài miệng mà tâm chạy vòng vòng như gà mắc đẻ.
Có người nói: “Con niệm Phật mà tâm tán loạn quá, vậy có hy vọng không?” Có chớ chị. Tán loạn mới cần niệm. Bệnh mới cần thuốc. Dơ mới cần rửa. Người đang ở trong bùn mà chịu ngước lên nhìn hoa sen là đã có hy vọng rồi. Đừng đợi tâm thanh tịnh mới niệm Phật. Làm vậy khác nào nói: “Đợi hết đói rồi tôi mới ăn cơm.” Đói mới ăn, loạn mới niệm, khổ mới tìm đường về. Hôm nay niệm mười câu tán hết chín câu, còn một câu rõ ràng, quý một câu đó. Mai ráng thêm một câu nữa. Cứ vậy mà đi. Phật không chê người mới tập đi. Phật chỉ thương người chịu quay đầu.
Chị Bích Duyên ơi, người niệm Phật chân thật, càng tu càng không khoe. Càng gần Phật càng khiêm nhường. Càng có cảm ứng càng kín đáo. Vì họ biết tất cả đều nhờ Phật lực, nhờ đại nguyện của A Di Đà, chớ không phải do mình hay ho gì. Người thật tu giống như trái cây chín, tự có mùi thơm, không cần la làng “tui ngọt lắm nghen bà con”. Còn người mới có chút cảm giác lạ đã khoe ầm ầm, thì giống trái mít non mà đòi mở sạp bán, bổ ra toàn mủ, dính dao rửa muốn xỉu.
Cho nên chuyện biết trước ngày giờ vãng sanh, mình kính tin là có, nhưng không lấy đó làm thước đo duy nhất. Có người biết trước rồi đi, rất quý. Có người không nói biết trước nhưng cuối đời chánh niệm rõ ràng, con cháu trợ niệm, tâm không hoảng loạn, miệng niệm Phật mà đi, cũng quý vô cùng. Có người chỉ kịp mười niệm cuối đời mà tín nguyện đầy đủ, cũng được Phật tiếp dẫn. Đại nguyện của Phật A Di Đà rộng lắm, không phải cái cửa nhỏ xíu chỉ dành cho người tu cao siêu. Cửa Cực Lạc mở cho người thật lòng muốn về.
Bốn Lúa tui nói vui nãy giờ cho chị dễ nhớ, chớ tới đoạn này lòng tui lắng xuống thiệt. Đời người mong manh lắm chị à. Sáng còn ngồi uống trà, chiều đã nghe tin người quen bệnh nặng. Hôm nay còn cười nói, mai chưa chắc còn đủ hơi để niệm một câu rõ ràng. Cho nên người mới phát tâm như chị là quý lắm. Đừng chờ già, đừng chờ rảnh, đừng chờ hết chuyện đời rồi mới tu. Chuyện đời như cỏ bờ ruộng, nhổ chỗ này mọc chỗ kia. Chỉ có câu Nam mô A Di Đà Phật là sợi dây vàng buộc lòng mình lại với ánh sáng của Phật.
Mình niệm Phật không phải để trốn đời, mà để biết thương đời bằng tâm sáng hơn. Mình cầu sanh Cực Lạc không phải vì chán ghét người thân, mà vì muốn về nơi không còn sanh tử luân hồi, học đạo cho thành tựu rồi trở lại độ người thân, độ chúng sanh. Mình buông Ta-bà không phải buông bằng lạnh lùng, mà buông bằng trí tuệ. Như người mẹ đi xa học thuốc hay, đâu phải bỏ con, mà là để sau này cứu con khỏi bệnh. Người niệm Phật cầu về Cực Lạc cũng vậy, lòng thương không mất, chỉ hết cái thương mê luyến làm mình cùng nhau trôi nổi.
Mai này, nếu duyên lành đầy đủ, chị biết trước ngày giờ vãng sanh thì tốt. Nếu không biết trước, cũng không sao. Chỉ cần ngay bây giờ chị biết một điều thôi: mình có Phật để nương, có đường để về, có câu danh hiệu để giữ, có cõi Cực Lạc để mong. Biết được vậy là đời này không còn lạc lõng nữa. Giữa chợ đời ồn ào, giữa lòng người đổi thay, giữa bao nhiêu bỡ ngỡ của người mới tu, chỉ cần chị khẽ niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, là trong tim đã có một ngọn đèn không tắt.
A Di Đà Phật, chị Bích Duyên ơi. Cứ đi chậm mà chắc. Cứ niệm hiền lành mà bền. Cứ tin Phật như đứa con tin mẹ đứng ngoài ngõ chờ mình về. Cực Lạc không xa với người thật lòng. Xa là vì mình còn quay lưng. Một khi mình xoay lại, một câu Phật hiệu cất lên, thì ánh sáng của Phật đã chạm tới mình rồi.
Bốn Lúa Tám Chiện tui chúc chị từ nay giữ câu Phật hiệu như giữ hạt giống sen trong lòng. Dù đời có bùn, sen vẫn mọc. Dù tâm còn loạn, Phật vẫn thương. Dù mình mới tập đi, đường Tây Phương đã có Phật đứng chờ. Chị cứ niệm đi, niệm bằng lòng thật thà, niệm bằng nước mắt cũng được, niệm bằng nụ cười cũng được. Rồi một ngày nào đó, khi gió Ta-bà lặng xuống, khi hơi thở cuối cùng nhẹ như cánh cò bay qua đồng chiều, chị sẽ nghe trong sâu thẳm lòng mình một tiếng gọi rất thân thương: “Con ơi, về thôi.”
Nam mô A Di Đà Phật.