Mười Lý Do Nên Tu Pháp Môn Tịnh Độ Để Vãng Sanh về Tây Phương Cực Lạc

Mười Lý Do Nên Tu Pháp Môn Tịnh Độ Để Vãng Sanh về Tây Phương Cực Lạc

1. Trong các bộ kinh mà Phật Thích Ca tuyên thuyết trong suốt 49 năm, mỗi bộ kinh ngài chỉ giảng qua một lần mà thôi. Riêng Kinh Vô Lượng Thọ (bộ kinh chính của hành giả tu Tịnh Độ) ngài giảng đến 5 lần vì khi kết tập kinh điển các vị tổ sư thấy có 5 quyển Kinh Vô Lượng Thọ với nội dung tuy giống nhau nhưng bố cục lại hoàn toàn khác nhau. (Sau này lão cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập tất cả 5 cuốn kinh ấy lại làm thành 1 cuốn hoàn chỉnh như chúng ta có ngày nay. Đây là cuốn Kinh Vô Lượng Thọ hoàn chỉnh nhất vì nó bổ sung cho nhau những khiếm khuyết cũng như ưu điểm của riêng từng cuốn.) Yếu chỉ của Kinh Vô Lượng Thọ là khuyên bảo chúng sinh nên cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của việc sanh về Tây Phương Cực Lạc to lớn đến dường nào nên đức Thích Ca Mâu Ni Phật mới giảng đi giảng lại nhiều lần như thế, không như những cuốn kinh khác ngài chỉ nói qua một lần rồi thôi.

2. Trong thế giới Hoa Tạng các bậc đại thượng thủ bồ tát như Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền đều là Đẳng Giác Bồ Tát sắp thành Phật. Thế mà cả 2 vị đều nguyện sanh về Tây Phương để sớm viên thành Phật quả. Trong kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện, Đức Phổ Hiền phát kệ thệ nguyện rằng: “Nguyện cho tôi khi sắp lâm chung, trừ sạch hết thảy bao chướng ngại; tận mắt thấy Phật A Di Đà, tức được vãng sinh nước Cực Lạc.” Thiết nghĩ chúng ta chỉ là phàm phu không thể nào sánh bằng 2 vị ấy thì không thể không nguyện sanh về Tây Phương Cực Lạc sao đặng?

3. Ở các thế giới Tịnh độ khác, mỗi thế giới chỉ có một vị bồ tát Nhất Sanh Bổ Xứ (tức hậu bổ Phật hay còn gọi là vị Phật tương lai sẽ thay thế vị Phật hiện tại.) Tại thế giới Ta Bà của chúng ta đang ở hiện có 1 vị hậu bổ Phật, đó là ngài Di Lặc bồ tát. Bồ tát Di Lặc hiện đang ở tại cung trời Đâu Xuất, ngài đã được Phật Thích Ca thọ ký sau này sẽ trở xuống cõi trần và trở thành vị Phật tương lai. Riêng tại Tây Phương Cực Lạc số lượng bồ tát Nhất Sanh Bổ Xứ như bồ tát Di Lặc nhiều không thể đếm xuể (theo Kinh A Di Đà). Người vãng sanh về nơi ấy ngày đêm thường được kề cận các vị đại bồ tát này để học hỏi nên đường đạo tiến rất nhanh, sớm tiến đến quả vị Phật.

4. Tu theo pháp môn Tịnh Độ rất dễ tu chỉ cần Tin sâu vào pháp môn mình tu, Nguyện thiết tha được sanh về Tây Phương Cực Lạc, và chăm chỉ Hành trì niệm Phật là được. Người tu Tịnh Độ không cần phải đoạn hết nghiệp của mình (tham, sân, si) mà có thể vượt khỏi luân hồi, siêu thoát 3 cõi (Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới) để về cõi Tịnh của Phật A Di Đà là Tây Phương Cực Lạc. Tu theo các pháp môn khác người tu bắt buộc phải diệt trừ tận gốc tất cả nghiệp chướng của mình mới có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử.

5. Tất cả các thế giới của các chư Phật, chỉ riêng có Phật A Di Đà đến tiếp dẫn người lúc lâm chung về cõi Tịnh Độ của mình. Ngoài ra không có 1 vị Phật nào khác làm điều này.

6. Thế giới Tây Phương Cực Lạc thành tựu do nguyện lực của đức Phật A Di Đà gom hết tất cả các ưu điểm trong 210 ức cõi Phật khác lại mà thành. Thế cho nên cõi nước của A Di Đà Phật ưu việt hơn tất cả các thế giới của các chư Phật khác. Nơi ấy chỉ có toàn những điều vui mà không bao giờ nghe đến điềm khổ nên được gọi là Thế Giới Cực Lạc.

7. Nếu ở tại thế giới Ta Bà của chúng ta hiện tại để tu thì phải mất đến 3 đại A Tăng Kỳ (vô lượng kiếp) mới thành Phật. Vì kiếp người ở thế gian chỉ vỏn vẹn vài chục năm hay cao lắm là 100 năm. Khi chết đi đầu thai làm kiếp khác lại quên mất việc tu hành của mình đời trước nên đường tu có khi tiến lúc lùi trong vô số kiếp. Nếu được sanh về Tây Phương Cực Lạc, tuổi thọ của con người nơi ấy dài vô lượng nên chỉ trong 1 đời có thể tu chứng thành Phật quả.

8. Trong Tịnh Độ tông chỉ có vỏn vẹn 13 vị tổ. Nhưng trong đó có đến 2 vị là hóa thân của Phật (Thiện Đạo đại sư và Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư đều là hóa thân của Phật A Di Đà) và 1 vị là hoá thân của đại bồ tát (Ấn Quang đại sư là hóa thân của Đại Thế Chí bồ tát).

9. Các vị bồ tát, các thánh hiền trong kinh luận đều hết sức tán dương, khen ngợi, cũng như khuyến khích tu pháp môn Tịnh Độ. Ngài Thiện Đạo Hoà Thượng nói rằng: “Tu pháp môn Niệm Phật ngàn người tu không sót một.” Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ thiền sư – một vị cao tăng đích truyền về tông Pháp Nhãn – dạy rằng: “Tu Tịnh Độ muôn người tu muôn người về.” Văn Thù Sư Lợi bồ tát dạy: “Trong các pháp môn của đức Phật không môn nào qua môn Niệm Phật. Niệm Phật là vua trong các pháp môn.” Quan Thế Âm bồ tát cũng dạy rằng: “Niệm Phật hơn các hạnh khác.” Mã Minh đại sĩ – tổ thứ 12 của Thiền tông Ấn Độ – trong Đại Thừa Khởi Tín Luận có ghi rằng: “Chuyên tâm niệm Phật là phương tiện tối thắng của đức Như Lai.” Long Thọ bồ tát – tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ – cho rằng: “Niệm Phật Tam Muội có đầy đủ trí tuệ, có vô lượng phước đức, đoạn trừ tất cả phiền não, độ tất cả các chúng sanh, và sanh ra vô lượng Tam Muội khác cho đến Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội.”

10. Điều kiện để một chúng sinh sanh về các thế giới Tịnh độ khác như cõi Tịnh Độ của Bồ tát Di Lặc và Tịnh độ của Phật A Súc là rất cao, và chỉ trông cậy vào sức tu của chính mình hay tự lực. Trong khi điều kiện vãng sinh về cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà đơn giản chỉ cần nhất tâm niệm Phật với đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh, đặc biệt là được nương nhờ tha lực của Phật A Di Đà tiếp dẫn theo như lời nguyện thứ 18 của ngài trước khi thành Phật:

“Khi ta thành Phật, nếu chúng sinh mười phương muốn sinh về nước ta, xưng danh hiệu ta, nhẫn đến tối thiểu là mười niệm*, nương vào nguyện lực của ta, nếu như không được vãng sinh, ta thề không giữ ngôi Chánh Giác.”

* Ghi chú: 10 niệm tức là 10 hơi niệm danh hiệu của ngài: A Di Đà Phật.

Cư sĩ Hữu Minh

CHIA SẺ BÀI VIẾT:

9 Phúc đáp

  1. phạm thị Diễm Trang

    Mình rất thích nghe và xem các bài viết về phật .Bản thân mình gặp rất nhiều đau khổ nhưng mình không buồn vì mình nghĩ đó là nghiệp mình gieo nơi kiếp trước .Mình đã trãi nghiệm được sự gia hộ của phật sau khi chép kinh pháp hoa ,thật là mầu nhiệm.
    Hằng ngày mình bận rộn lắm song cũng tranh thủ niệm phật và chú Đại bi.Nay cuộc sống đã bớt khổ nhiều rồi.Mình nguyện phật gia hộ cho mình có đủ duyên lành khi về hưu được vào chùa tu học để vãng sanh. A DI ĐÀ PHẬT !

  2. Châu Phong

    Nam mô A Di Đà Phật !!!
    Con nguyện đem hết thảy công đức, hồi hướng về cõi Tây Phương Cực Lac,

  3. Nguyễn Sơn Phong

    A Di Đà Phật!

  4. Liên Hữu Huệ Tịnh

    A Di Đà Phật.

    5 lý do nên tu pháp môn Tịnh Độ để vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

    Vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc:
    1. Gần gũi Đức Phật A Di Đà để nghe Diệu Pháp
    2. Sớm chứng quả vô sanh pháp nhẫn

    Không rời An Dưỡng lại Ta Bà:
    3. Trên đền bốn ơn nặng
    4. Dưới cứu khổ tam đồ
    5. Đồng sanh về Cực Lạc.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

  5. Hoa Long Cư Sĩ

    Ai ai cũng từng lầm đường lạc lối, nhưng biết ăn năng hối lỗi sửa đổi sai lầm thì thật quý biết bao! Phận làm người con trong đời hay con Phật nên vì lỗi lầm của ta, của đấng sinh thành dưỡng dục mà sửa đổi sai lầm.

    Phật nói: “Trăm hạnh, Hiếu đứng đầu“. Đời nay con cái cố gắng làm nhiều tiền hằng mong cho Cha Mẹ được sung sướng trong cảnh giàu sang thoát ly nghèo khổ đó là điều tốt nhưng chỉ là tiểu hiếu mà thôi, nay nên vì đại hiếu mà bước đi vào con đường tu tập báo hiếu cho Cha Mẹ từ nhiều đời nhiều kiếp làm lợi cho tất cả chúng sanh như thế mới thực là người con chí hiếu.

    Có người bảo làm nhiều tiền giúp cho Cha Mẹ thoát khổ cùng tu tập thì có phải hơn không? Được thế thì thật là quý tuy nhiên danh lợi là dây trói của sinh tử, là lưới sắt để vướng vào ba đường dữ, thuở xưa nếu giàu có mà được Đạo thì Bổn Sư Phật Thích Ca không bỏ ngai vàng mà cùng ngai vàng tu Đạo rồi! người xưa có câu “Xả Phú Cầu Bần, Xả Thân Cầu Đạo” không thể nào anh muốn nhà lầu xe hơi tiền tài bạc tỉ tay cầm iphone vertu mà cũng muốn làm Phật được, sự giàu có của anh so với Bổn Sư Phật Thích Ca năm xưa có đáng là bao, sự rảnh rỗi khi mãi mê lo toan kiếm sống so với sự rảnh rỗi của Thái tử Tất Đạt Đa thì ai có thời gian nhiều hơn, ai lo toan nhiều hơn, ai ít lo toan ai nhiều thời gian tu tập hơn thì hiểu! (Thái tử Tất Đạt Đa sau này bỏ ngôi đi tu thành Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật)

    Cuộc sống này dẫu có khó khăn, dẫu có vất vả ta cũng chỉ nên tìm cầu đủ sống chẳng tranh giành làm gì, không quá cao sang, quần áo không cần đồ hiệu chỉ cần sạch sẽ được rồi, cơm canh đạm bạc rau củ qua ngày cũng vui rồi bởi vì Sanh Có Hạn Tử Có Kỳ, cuộc sống vô thường ai biết được sáng thở ra tối có biết hít vào được nữa không?

    Sống trên đời ta cũng phải có lòng yêu nước thương đồng bào, chiến tranh tang thương mấy ai muốn, những bậc anh tài đang trị vì đất nước nên hiểu rằng xã hội ngày nay do đâu mà đạo đức suy đồi, lòng người nghi kỵ hư dối khó lường, nam hoán nữ nữ hoán nam trong chốc lát, bệnh tật dị thường do đâu mà sanh. Chiến tranh tuy chưa xảy ra trên hình thể nhưng sự đã xảy ra trước mắt chúng ta rồi trong từng giờ từng ngày đó là việc đâm chém giết hại lẫn nhau tranh đua vì danh lợi thù hèn vì tình ái nếu hội đủ cơ duyên chiến tranh đẫm máu tất sẽ đến,

    Xưa nay trong một bát canh
    Oán sâu như bể hận thành non cao
    Muốn hay nguồn gốc binh đao
    Lắng nghe lò mổ tiếng gào đêm thanh

    Từ trước đến nay hầu như Phật tử hay người đời đến Chùa, chỉ để cầu an cầu siêu cúng sao giải hạn, coi bói xin quẻ xin xăm, coi hỏi ngày giờ tốt xấu hay làm việc thiện, công quả cúng dường… chỉ để cầu mong được phước đức, giàu sang người nhà mạnh khỏe con cái đỗ đạt bệnh tật mau lành. Như thế là chưa phải Đạo! nay Hoa Long tôi mạo muội đem sự hiểu biết cạn cợt mà nói đôi lời cùng các vị thiện hữu, thiện tri thức có duyên, cùng đàm Đạo!

    “Ðức Phật dạy:
    1) “Người ra khỏi ác đạo, được làm người là khó;
    2) Đã được làm người, bỏ thân nữ được thân nam là khó;
    3) Đã được thân nam, sáu căn đầy đủ là khó;
    4) Sáu căn đã đủ, được sanh ra ở vùng trung tâm đất nước là khó;
    5) Đã sanh ra ở vùng trung tâm đất nước, gặp Phật ra đời là khó;
    6) Đã gặp Phật ra đời, lại được gặp bậc tu Ðạo là khó;
    7) Đã được gặp Ðạo, lại sanh lòng tin là khó;
    8) Đã sanh lòng tin, lại phát tâm Bồ-đề là khó;
    9) Đã phát tâm Bồ-đề, mà đạt đến chỗ vô tu, vô chứng là khó.”
    Trính trong Phật Thuyết Tứ Thập Nhị Chương Kinh

    “Thân mạng khó được, Phật Pháp khó tìm” vì thế “Đạo không bỏ Đời, Đời không lìa Đạo” Đã được thân người khó được, nếu tương lai để rơi vào ba đường dữ thì đáng buồn, đáng tiếc vô cùng, những bậc hiểu rõ giáo nghĩa thì cũng nên vì chúng sanh mà tạo duyên lành với Phật đạo, đừng ỷ con người lớn mạnh muôn loài cầm thú sanh ra là để con người bồi dưỡng cơ thể, sao anh không nghĩ xem con trâu con bò nó chỉ ăn cỏ ăn rơm rạ mà nó khỏe thế! Anh bảo nó là loài vật nó khác, bao tử nó nhiều ngăn nên thích hợp thế! Nó và anh chẳng khác gì ngoài việc anh có chút ít trí tuệ để duy trì ý thức, xét về cấu trúc tiêu hóa đường ruột thì cả hai đều như nhau cả, ruột già ruột non cả hai đều dài ngoằn ngoèo uốn éo quằn tới quằn lui cả 6 mét trong bụng nhằm mục đích tiêu hóa thức ăn nhiều xơ như rau củ quả mà chẳng thích hợp cho ăn thịt nhiều đạm ít xơ. Các loài ăn thịt thì ruột non ngắn ruột già ngắn và trơn nhẵn.

    Bao tử nó nhiều ngăn là vì răng hàm nó chỉ có một hàm, hàm trên hoặc hàm dưới tùy loài nhiều ngăn là để nó chứa thức ăn để lúc rảnh nó đưa lên mà nhai lại vì chúng chỉ có một hàm nên nhai không được kĩ khó tiêu hóa hết dinh dưỡng, còn thân ta đủ cả hai hàm, ăn chín uống sôi lại rồi nhai kĩ anh còn ước gì nữa! Miếng thịt thơm ngon chỉ ngon khi ta còn nhâm nhi nhai nuốt, khi lọt xuống bao tử rùi thì chẳng còn ý vị gì cả. Lại nữa bởi vì thịt ít chất xơ nên sau khi tiêu hóa còn để lại cặn bả, ruột con người tương đối dài thức ăn ở trong ruột quá lâu sẽ sinh ra độc tố, tăng thêm gánh nặng cho gan. Gan quá sức chịu đựng sẽ trở nên xơ cứng, thậm chí ung thư.
    Lại nữa, trong thịt có rất nhiều axít uric, urê, ăn vào tăng thêm gánh nặng cho tạng thận, dẫn đến bệnh thận. Vả lại, thịt ở trong ruột già, ruột non phải qua sự hấp thụ quá độ không cần thiết và thịt vốn lại thiếu chất xơ, dễ tạo nên táo bón, dẫn đến bệnh trĩ và ung thư trực tràng như thế ăn thịt là tự rước họa vào thân. Vì một tương lai thương ái người người ít bệnh tật xin hãy suy xét.

    Muôn loài cũng biết vui biết ưu sầu biết ham sống sợ chết vậy, tuổi thơ tôi cũng từng là tay thiện xạ tầm nã trăm mét chẳng hai lần ngắm. Chúng ta giết con cá hay con chim, lớn hơn nữa con heo hay bò con nào trước khi bị dao búa bổ xuống cũng vùng vẫy kêu la thảm thiết hệt như cầu xin tha mạng vậy!
    Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện dạy rằng: “Chúng sinh thương yêu nhất là sinh mạng, chư Phật thương yêu nhất là chúng sinh. Cứu được thân mạng chúng sinh thì thành tựu được tâm nguyện của chư Phật.”

    Tuy muôn loài khó nói tiếng người mà tụng niệm được thì cũng nên vì cơ duyên khó gặp muôn loài mà gieo căn lành vào “tạng thức” nó đơn giản mỗi lần ta phóng sanh chỉ cần niệm Nam Mô A Di Đà Phật rồi thả. Nhờ đó mà kiếp sau chuyển thế làm người ắt sẽ gặp được Phật pháp, biết niệm Phật tu hành, được vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, vĩnh viễn thoát ly cái khổ của sáu nẻo luân hồi. Đây mới chính là ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm nhất của việc phóng sanh.

    Mọi người tuy khó lòng thực hiện được việc trường chay, phóng sanh thả vật làm niềm vui thích thì Hoa Long tôi không mong gì hơn ngoài việc mong muốn các vị cả đời 60 hay 600 năm hãy cố gắng thực hiện 7 điều kiêng sát theo lời khuyên của Đại Sư Liên Trì vì chúng sanh mà hoan hỷ cùng, trên thuận theo thiên ý dưới thuận với ý tổ tiên ông bà đang đọa lạc vào ba đường khổ (ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục), nếu hiểu được đạo lý nhân quả luân hồi thì miếng thịt trên bàn kia biết đâu là ông bà cha mẹ anh em ta oan gia trái chủ từ nhiều đời nhiều đến nay đang thọ khổ, có lòng dạ nào mà nuốt trôi được chứ!
    Nam Mô A Di Đà Phật

    1. Ngày sinh không được sát sinh (ngày sinh nhật)
    Cha mẹ đau đớn, sinh ra ta vất vả. Ngày sinh ra ta chính là ngày mẹ ta chết dần đi. Vì vậy nên phải cấm tuyệt việc sát sinh, nên ăn chay, làm nhiều điều thiện, cầu cho cha mẹ tăng thêm phúc thọ. Cớ sao lại quên nỗi vất vả của cha mẹ mà nỡ lòng sát hại sinh linh?

    2. Sinh con không được sát sinh
    Không có con ắt phải buồn lo, sinh được con thì rất vui. Sao không nghĩ xem, loài cầm thú cũng biết yêu thương con, cớ sao mình sinh con ra lại khiến cho con của loài khác phải chết? Như vậy có thể yên tâm được sao? Than ôi đứa trẻ vừa mới sinh ra, đã không vì nó tích đức mà lại sát sinh, thế chẳng là mê muội lắm sao?

    3. Cúng giỗ không được sát sinh
    Khi cúng giỗ người đã khuất hoặc tảo mộ vào tiết xuân thu đều nên cấm việc sát sinh để tạo phước đức.Trong tự nhiên sẵn có tám loại thực phẩm quý để dâng cúng, đâu thể bới xương cốt dưới cửu tuyền lên mà ăn sao? Sát sinh để dâng cúng chính là đại bất hiếu!
    (tám loại thực phẩm quý là chỉ các loại hoa quả, ngủ cốc)
    (Không những không nên tổ chức rầm rang giỗ cho to mà còn giỗ chay đạm bạc mới hợp nghĩa bởi ngày ấy là ngày thương tang mong nhớ người xưa không nguôi, sao nay lại rượu thịt bia bọt ca hát nhảy múa vui mừng? dẫu vui mừng Cha Mẹ Ông Bà được vãng sanh cũng không nên sát hại thân mạng chúng sanh để thỏa dục vọng ham ăn của ngon vật lạ được mà ngày ấy nên phóng sanh mới hợp với tâm nguyện vãng sanh của người quá cố, lại còn lắm lúc men vào lời ra có khi anh em chòm xóm láng giềng bất hòa xảy ra ẩu đả gây thương vong vô cớ, phận làm cha mẹ ông bà dưới cửu tuyền hay thiên đàng có vui chăng? Phải đạo làm người lắm chăng?)

    4. Hôn lễ không được sát sinh
    Việc cưới hỏi ở thế gian, có đủ nghi lễ thì thành chồng vợ, nào có phụ thuộc vào việc sát sinh? Khi lập gia đình là đã bắt đầu nghĩ đến việc sinh con. Trước lúc sinh con mà làm việc giết hại, quả là nghịch lý. Như vậy là ngày lễ tốt lành mà lại làm việc hung dữ, giết hại, chẳng phải là mê muội lắm sao?

    5. Đãi khách không được sát sinh
    Ngày lành cảnh đẹp, chủ hiền đãi bạn rau, gạo, quả, trà không trở ngại chi đến cảnh trí
    nhà Phật. Cớ sao lại giết hại mạng sống? Cùng cực béo ngọt, vui ca say sưa với cốc chén, giết hại oan uổng bao mạng sống trên mâm ăn! Than ôi! Người có tấm lòng, nhìn thấy như vậy chẳng buồn lắm sao?

    (Khách đến với ta vì tình vì nghĩa hay vì miếng ngon mới đến. Trà, hoa quả cũng không trở ngại gì đến tình giao hữu của đôi bên)

    6. Cầu an không được sát sinh
    Người đời có thói quen sát sinh để tế thần,mong thần phù hộ.Không nghĩ rằng mình tế thần là muốn tránh cái chết, cầu sự sống, nhưng giết hại mạng sống loài khác để mong cho mạng mình sống lâu quả thật là nghịch lý, tàn độc hung ác.

    7. Buôn bán sinh sống không được sát sinh
    Phàm là con người ai cũng phải vì cơm ăn áo mặc. Hoặc phải đi săn bắt, hoặc phải xuống nước bắt cá, mò tôm, hoặc phải giết trâu, bò, lợn, chó… cũng chỉ vì kế sinh nhai. Nhưng xét lại, những người không làm các nghề này cũng vẫn có cơm ăn áo mặc, đâu vì thế mà phải chết đói chết rét? Làm nghề sát sinh ắt sẽ chịu quả báo bị giết hại. Lấy việc giết hại mà được giàu có thì trăm người chẳng có lấy một! Ngược lại còn phải chịu ác báo trong nay mai, không có gì nguy hại hơn thế. Sao không cố gắng thay đổi nghề nghiệp, chọn những cách sinh nhai hiền lành chẳng phải tốt hơn sao?

    Đức Phật đã dạy trong Kinh “Diệu Pháp Liên Hoa”: Dù chúng ta có sinh vào cõi sung sướng như cõi trời hay cao hơn nữa như ở cõi sắc và vô sắc thì vẫn như đang ở trong nhà lửa, hết phước đức lại vẫn bị đọa vào các đường xấu.

    Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ lo cho chúng sinh đời sau không hiểu rõ điều quan trọng nên viết riêng thành một bài kệ Tứ Liệu Giản mong mọi người đời sau biết chỗ mà tiến theo:

    Có Thiền, có Tịnh Độ,
    Khác nào hổ thêm sừng,
    Hiện tại làm thầy người
    Đời sau làm Phật, Tổ.

    Không Thiền, có Tịnh Độ,
    Vạn tu, vạn cùng sanh,
    Nếu được thấy Di Đà,
    Lo gì chẳng khai ngộ.

    Có Thiền, không Tịnh Độ
    Mười người, chín chần chừ
    Ấm cảnh nếu hiện tiền
    Chớp mắt đi theo nó.

    Không Thiền, không Tịnh độ
    Giường sắt cùng cột đồng
    Muôn kiếp với ngàn đời
    Không một ai nương dựa

    (Tổ Thứ 6 Tịnh Độ Tông Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ Đại Sư chính là ứng thân của Phật A Di Đà vì thế Tăng chúng lúc bấy giờ mới lấy ngày sanh nhật của Ðại Sư – ngày 17 tháng 11 – là lễ vía kỷ niệm Phật A Di Ðà)

    Lời văn đơn giản đủ cho chúng ta hiểu chỉ có hai Pháp môn giúp chúng ta giải thoát đó là Thiền Định và Tịnh Độ.

    Thiền Định là giành cho bậc căn cơ thượng đẳng hay thời tượng pháp nay đã là thời mạt pháp rồi, không khế hợp với tất cả căn cơ chúng sanh được, bất quá chỉ là Thiền tỉnh tọa an tâm tìm chút an lạc trong đời thường thôi chưa là Thiền Định giải thoát được, còn nữa Thiền là ta tự lực tìm đường giải thoát rất dễ bị ma cảnh bởi một khi ta khởi Pháp Môn Thiền Định là bị oan gia trái chủ tới đòi nợ liền một khi lầm theo cảnh ngũ ấm ma mà đi, bị ma dựa phát cuồng. Phàm khi bị ma dựa phát cuồng là các vị tăng thượng mạn chẳng biết đúng sai là gì cứ y như là ta đã đại triệt ngộ rồi vậy, rồi phạm tội đại vọng ngữ điều này thật nguy hại vô cùng đối với chúng sanh căn cơ thấp kém các bậc thượng trí hãy quán nhân duyên căn cơ từng người mà xem xét cho kỹ trước khi truyền thụ không nên truyền mang tính đại trà được vì Pháp Môn Thiền Định Thượng Thừa ấy là trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật, nên chính Bổn Sư Phật Thích Ca cũng chỉ đặc biệt tâm truyền tâm cho Tổ Ca Diếp rồi đến đời tổ 33 tức Lục Tổ Huệ Năng thì lòng người đã hư dối lắm rồi! (Lục Tổ cách chúng ta hiện nay đã hơn ngàn năm rồi còn đâu như thế đủ biết nhân loại nay thế nào rồi)
    Chưa kể khi vào Thiền ta phải dứt mọi sự ràng buộc xả bỏ tất cả ngũ dục ngũ cái!

    Thế nào là dứt mọi sự ràng buộc? Tức là dứt việc làm nuôi sống không tạo sự nghiệp thế gian, không kết bạn thân với người thế tục, từ bỏ mọi kỹ thuật khéo léo, dứt việc học vấn đọc sách học hỏi đều bỏ.

    Thế nào là ngũ dục? Ngũ dục là sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục, xúc dục.

    Thế nào là ngũ cái? Ngũ cái là tham dục, giận hờn, mê ngủ, diêu động hối hận, nghi ngờ.

    Tại sao phải xả bỏ? Vì còn nhiều việc ràng buộc thì việc hành đạo phải bê trễ, tâm loạn động khó nhiếp phục. Nên chỉ thích hợp cho các vị đã xuất gia.

    Lại nữa, Khi tham nhập Thiền Định bất quá quý vị chỉ đạt Tứ Thiền là cùng, đường đến cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng xứ còn xa lắm huống hồ nếu đạt được cảnh giới Thiền Định tột cao này vẫn còn trong sinh tử luân hồi.

    Chi bằng theo Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà mà rốt ráo cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. đó là con đường Tịnh Độ cậy nhờ vào Phật lực mà đới nghiệp vãng sanh gặp được Phật A Di Đà ngày đêm thuyết Pháp lo gì chẳng ngộ mà quay lại nơi này hóa độ chúng sanh còn trôi lăn trong vòng sanh tử há chẳng tốt hơn sao!

    Bài kệ cuối nói Không Thiền, Không Tịnh Độ Giường sắt cùng cột đồng, Muôn kiếp với ngàn đời, Không một ai nương dựa.
    Không Thiền, Không Tịnh Độ ý nói các phàm nhân không tu tập lẫn tu tập các Pháp Môn khác như Luật Luận Giáo Mật … cho đến trì kinh tụng chú hay các bàn môn tả đạo Huyền Môn Tử Vi Lý Số, Kinh Dịch, Pháp Luân Công, Nhân Điện … Luật Luận Giáo Mật tuy thâm diệu nhưng thời điểm căn cơ chúng sanh không khế hợp được. Thời Mạt Pháp một vạn năm Kinh Điển diệt tận chỉ còn lại Pháp Môn Niệm Phật lưu lại trong nhân gian đúng trăm năm để hóa độ chúng sanh mà thôi!

    Kinh Đại Tập dạy rằng: “Thời mạt pháp, muôn ức người tu hành cũng ít có được một người đắc đạo. Chỉ có y theo pháp môn niệm Phật mà được độ thoát sinh tử.”

    Tịnh Độ gồm nhiều hạnh tu trì như nhưng duy chỉ có tu hạnh Niệm Phật là hợp với Bổn Nguyện Phật A Di Đà, Phật A Di Đà chính là Tùy Kheo Pháp Tạng thời Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai mà phát 48 đại nguyện, nguyện thứ 18 là:

    “Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi, nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi Chánh Giác” – Kinh Vô Lượng Thọ. Mà nay Tùy Kheo Pháp Tạng đã ở ngôi Chánh Giác được mười đời rồi tức Đức Phật A Di Đà thế nên lời nguyện đã thành nên chúng ta chỉ việc một lòng tin tưởng niệm Phật, còn vãng sanh đã có Phật A Di Đà lo.

    Theo Niệm Phật Tông Yếu của Ngài Pháp Nhiên Thượng Nhân thì:
    Niệm Phật hoàn toàn không có hình thức. Chỉ cần biết rằng: “Hễ xưng Danh hiệu Đức Phật A Di Đà thì được sinh sang cõi Cực Lạc ”, do đó chí tâm niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” để cầu vãng sinh. Không cần để ý đến vọng niệm, tán loạn… mà chỉ chuyên cần xưng Danh hiệu. Nếu thường xưng Danh hiệu thì do công đức của Phật Danh, vọng niệm tự dừng, tán loạn tự yên, tam nghiệp (thân, khẩu, ý) tự điều hòa, nguyện tâm tự phát. Bởi thế:

    “ Khi nguyện tâm còn yếu, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
    Khi tâm tán loạn nhiều, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
    Khi vọng niệm sinh khởi, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
    Khi thiện tâm phát sinh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
    Khi bất tịnh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
    Khi thanh tịnh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
    Khi tam tâm còn thiếu kém, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
    Khi tam tâm hiện khởi, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
    Khi tam tâm thành tựu, cũng Nam Mô A Di Đà Phật ”.

    Đây là phương tiện để chắc chắn được vãng sinh, xin ghi khắc vào tâm can chớ quên.
    Người làm biếng Niệm Phật là người đánh mất đi vô lượng châu báu.
    Người siêng năng Niệm Phật là người khai mở vô biên sáng suốt.
    Nên dùng cái tâm cầu vãng sinh mà tương tục Niệm Phật.

    “Pháp Nhiên Thượng Nhân chính là Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất thời Bổn Sư Thích Ca Phật đã nhắc tên tới 36 lần trong Kinh Phật Thuyết A Di Đà Kinh”

    Kinh A Di Đà nói: “Không thể do chút ít thiện căn, phước đức,
    nhân duyên mà được vãng sinh Cực Lạc. Xá Lợi Phất! Nếu có
    thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe đến Đức Phật A Di Đà, bèn
    chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày,hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày,một lòng không loạn, người đó đến lúc mạng chung, Phật A Di Đà, cùng các thánh chúng hiện đến trước mặt. Người đó lúc mất, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà”.

    Ngài Thiện Đạo giải thích đoạn văn này như sau:

    Cực Lạc vô vi cõi Niết Bàn
    Tùy duyên, tạp thiện khó vãng sanh
    Nên Đức Như Lai lựa pháp yếu
    Khuyên niệm Di Đà, chuyên thật chuyên
    Bảy ngày bảy đêm không gián đoạn
    Khởi hạnh lâu dài lại gắng thêm
    Lâm chung, thánh chúng cầm hoa đến
    Thân tâm phấn khởi, sinh sen vàng
    Ngồi lên chứng đắc vô sinh nhẫn
    Liền được đưa đến trước Pháp Vương
    Bồ tát tranh nhau đắp y pháp
    Chứng ngôi bất thoái, nhập Tam Hiền.

    Niệm Phật tốt hơn hết chúng ta theo Pháp Kim Cang Trì Danh tức là niệm Danh Hiệu trong thầm lặng bằng ngôn ngữ của tâm, ngôn ngữ của ý. Tuy không niệm ra tiếng nhưng tâm lại nghe được tiếng, đó là tiếng nói hay ngôn ngữ của tâm, gọi là ý ngôn, mỗi chữ mỗi câu đều nghe được rất rõ ràng. Niệm Phật bằng cách này thì từ từ tâm sẽ hướng về một cảnh, ngoại duyên từ từ bị cắt đứt đạt được cảnh này thì trong Tịnh có Thiền trong Thiền có Tịnh vì vậy mà các vị Tổ Sư nói Thiền Tịnh vốn không hai nhưng chẳng phải một vì một bên dùng tự lực một bên nương Phật lực rốt ráo cuối cùng là đến bờ giải thoát. Còn khi ở chổ vắng lặng ta niệm bằng miệng nhưng tiếng thì chỉ thì thầm nơi cửa miệng tâm tai nghe được tức là miệng niệm, tai nghe, tâm tưởng theo từng chữ từng chữ niệm.

    Còn như thiện hữu hỏi: Niệm Phật lớn tiếng thì sao? Cũng tốt nhưng như thế làm hao tổn khí lực, niệm Phật cốt là để đạt nhất tâm bất loạn, niệm, niệm mà không niệm.

    Nguyện hồi hướng cho tất cả chúng sanh người người niệm Phật đều có thể một lòng một dạ niệm Phật cầu vãng sinh, một đời thành tựu để chẳng cô phụ đại từ bi nguyện của đức Di-đà, cũng chẳng quên ơn dạy dỗ với sự lao nhọc và ân cần chỉ dạy của các ân sư.

    Nam Mô A Di Đà Phật

  6. LH Huệ Tịnh

    — Niệm Phật Tông Yếu – Pháp Nhiên Thượng Nhân —

    Trong thời đại hiện nay và nhất là đối với hàng cư sĩ tại gia, Niệm Phật có thể nói là con đường tất yếu để ra khỏi sinh-tử. Đây là Pháp Môn Tha Lực duy nhất trong Phật Pháp mà điểm then chốt là tin tưởng tuyệt đối vào Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà.

    Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà là dùng Danh Hiệu của Ngài để cứu độ tất cả chúng sanh. Không hiểu rõ lý nầy, người ta thường cho rằng Xưng-Danh là để cho hạng hạ căn không đủ căn cơ để tu những pháp môn như Quán Thật Tướng, Quán Tưởng, Quán Tượng, v.v… Và khi tu Niệm Phật thì phần nhiều đều mang tâm niệm tự lực, vẫn cứ trông cậy vào sức mình để được vãng sinh. Đó là Tự Lực Niệm Phật. Bởi thế, tu rất nhọc nhằn mà cũng không chắc là mình có được vãng sinh hay không. Những ngộ nhận nầy chính dịch giả cũng mắc phải. Hơn một năm trước đây, may mắn thay, gặp được tác phẩm Pháp Nhiên Ngữ Đăng Lục. Như kẻ mù được sáng, người sắp chết đuối gặp phao. Hốt nhiên tín tâm phát khởi, nhận ra lý Tha Lực Niệm Phật. Từ đây, Niệm Phật trở thành một niềm vui không thể nghĩ bàn, vãng sinh Cực Lạc là điều chắc chắn chứ không cần đến lúc lâm chung. Do đó, xin chọn những pháp ngữ tinh yếu của Ngài để dâng tặng người hữu duyên.

    Xin nguyện rằng hễ ai đọc đến, đều phát khởi tín tâm, niệm Phật mà được vãng sinh Cực Lạc…..

    http://www.khanhanh.fr/phathoc/baiviet/niemphat.htm

    ===================================

    Nam Mô A Di Đà Phật!

  7. Giác Quang

    xin thường niệm A Di Đà Phật

  8. LH Huệ Tịnh

    Khởi lên danh hiệu “A Di Đà Phật” là tự mình tra vấn với chính mình cho thật kỹ càng. Không khéo điều nầy dễ đưa ta rơi vào cửa ngõ của chấp trước. Tu hành theo pháp môn Tịnh Độ chỉ vì “mục đích” để vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thành tựu tâm Bồ Ðề không ngoài chi khác.

    Pháp môn niệm Phật nói khó đi cũng không đúng, nói dễ đi cũng sai. Đúng hay sai do tâm vì mục đích gì mà tu niệm Phật. Mục đích mà không khéo đúng chánh pháp thiếu Từ Bi và Trí Tuệ mặc dù niệm Phật số lượng nhiều năm cũng không đem lại nhiều lợi ích giải thoát, vẫn còn nhiều ràng buộc chấp trước sâu trong tâm.

    Các bạn đồng tu nào vọng tâm cầu “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm” nên buông bỏ ý niệm đó đi. Hễ còn mong ý cầu bất niệm tức là vọng rồi. Sự mong cầu nào cũng lừa đảo mộng tưởng của dục vọng cho dù đó là Chân hay không. Nếu chúng ta dụng công đúng với “như thị chánh pháp”, thì không cầu nó cũng tới vì đó là kết quả tất nhiên của việc hạ thủ công phu niệm Phật, cần gì phải cầu?

    Nam Mô A Di Đà Phật.

Gửi phúc đáp

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>